Chủ đề Hội Nhập-Thư Ngỏ

 

Thư ngỏ
 
Hội nhập giữa những người Việt Nam cầm bút trong nước và bên ngoài:
Một đề nghị trao đổi – hội luận
 
 
Kính thưa anh/chị,
 
Trong thế giới ngày càng trở thành lãnh thổ một cái làng đa văn hoá, Thái Bình Dương hóa ra cái ao ếch với kỹ thuật truyền thông hiện đại. Người Việt Nam trên bốn phương trời mười phương biển hoá ra gần, gần vì sử dụng một ngôn ngữ, gần vì tha thiết với đất nước, và gần vì cùng ao ước một tương lai tốt đẹp. Đối với những người cầm bút trong mọi lãnh vực, điều này quá hiển nhiên, chắc không cần dài dòng, trừ một điều chúng tôi xin phép trình bày dưới đây.
 
Việt Nam đang hội nhập vào thế giới trên nhiều mặt, nổi nhất là hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thứ đến những khâu từ pháp luật đến tổ chức hành chính – chính trị, và tuy vận tốc có khác tùy sự khu biệt của từng vấn đề, có lẽ chúng ta đều nhận định rằng văn hóa là yếu tố cho phép chúng ta có thể hội nhập nhưng vẫn giữ được bản sắc. Điều này, hơn bao giờ hết là một bức thiết, đi đôi với việc cập nhật tri thức để tồn tại trong “cái làng toàn cầu” mà sự cạnh tranh ngày một gay gắt.
Do những điều kiện lịch sử ở quá khứ, một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên dưới ba triệu người thành hình trong ba chục năm qua. Sự đóng góp của cộng đồng, gọi là Việt Kiều, không nhỏ. Gần 6 tỉ đô la Mỹ mỗi năm đưa về nước, lớn hơn tổng số tài trợ quốc tế, và gấp ít ra 5 lần viện trợ không hoàn lại của cả thế giới gộp lại, là một thí dụ.
Nhưng còn một đóng góp khác: đóng góp văn hóa. Vì những điều kiện chính trị và tâm lý rơi rớt sau chiến tranh, những đóng góp này chưa được lưu tâm, thậm chí bị lãng quên, rất hiếm những tác phẩm văn học nghệ thuật hình thành ở hải ngoại có cơ hội “qui cố hương”.
Đóng góp của cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại trên bình diện văn hóa gồm nhiều bộ môn, từ điện ảnh, nghệ thuật tạo hình, âm nhạc đến văn chương, tư tưởng, triết học. Xin khoanh vùng trong khâu nghệ thuật văn chương dưới đây.
Ngoài báo chí truyền thông, và không kể những giai phẩm xuất hiện không định kỳ, hải ngoại có chừng 5, 6 tập san văn chương và lý luận văn học đến tay bạn đọc hai, ba tháng một lần, số lượng in khoảng 500, mỗi số từ 2 đến 3 trăm trang. Số người viết khá đông, thuộc đủ lớp tuổi, đông nhất có lẽ tuổi từ bốn đến sáu mươi, và đặc biệt từ khoảng chục năm nay có sự đóng góp của những người viết trong nước. Khác trước, thái độ cầu thị của những tập san này cho phép hy vọng rằng không gian tâm lý của người đọc thông thoáng hơn, và cái ngột ngạt thuở “theo cái này chống cái kia” trong lãnh vực văn học không còn căng như trước. Ngoài ra, sách vở in ấn trong nước được bày bán trong những tiệm sách khắp nơi, rất nhiều tác giả được đọc, và sau đó, được cảm nhận. Không còn nhiều rào cản đến từ thành kiến địa lý hay chính trị, có thể nói “hải ngoại” tương đối cởi mở đón nhận sự hội nhập của những nhà văn trong nước với cộng đồng Việt Nam bên ngoài qua công việc viết của họ. Sự phổ biến tác phẩm, sự chia sẻ ưu tư suy nghĩ của những nhà văn trong nước với những người, dù sống ở nơi nào, cũng vẫn chung một ngôn ngữ Việt Nam là một điều đáng mừng.
Ngược lại, người viết bên ngoài được đón nhận ra sao trong lòng quê hương gốc gác Việt Nam? Câu hỏi chưa có trả lời, một mặt vì số người viết này có tác phẩm in trong nước có thể đếm trên đầu hai bàn tay, mặt khác họ chưa hề có dịp phát biểu trên vấn đề này một cách có hệ thống. Duy một điều hiển nhiên: người viết nào cũng mong có bạn đọc, và khi viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, hẳn số bạn đọc hy vọng có được là trong nước, nơi có nhiều người Việt Nam nhất.
Trước xu thế hội nhập toàn bộ toàn cầu trong tương lai, phải chăng đã đến lúc những người viết ở trong nước và ở hải ngoại đặt câu hỏi phải làm thế nào để thúc đẩy tương quan giao lưu giữa họ với nhau nhằm tạo ra một thứ synergy, lực liên kết và đồng vận, trong công cuộc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam, điều kiện quan yếu hòng giữ bản sắc với bối cảnh trên? Đâu là những vấn đề nổi cộm trong tương quan này? Synergy, gọi gọn là lực liên vận, nói trên là gì? Nếu thể hiện được, nó sẽ đóng góp ra sao?
Nhằm xác định một ý niệm chung về vấn đề nêu trên, chúng tôi mạo muội gửi đến quí anh/chị một số những câu hỏi dưới dạng “phỏng vấn”. Nếu được trả lời, sự đóng góp này sẽ được chính anh/chị nhuận chỉnh trước khi phổ biến rộng rãi trên báo điện (và, tùy khả năng, có thể in thành sách sau). Nêu, hay không nêu, danh tính cũng là quyết định của anh/chị. Trong những câu hỏi, có những câu xin được trả lời chính xác, nhưng quan trọng là phần anh/chị đặt những vấn đề anh/chị cho là thiết yếu và cần thảo luận. Những vấn đề này sẽ được đặt ra lại với những người tham dự, tiến hành như một cuộc hội luận giữa những người cầm bút, cả trong nước lẫn ở hải ngoại.
 
Tha thiết xin anh/chị tham gia cuộc hội luận này vì tấm lòng với sự nghiệp văn hóa, chúng tôi tin rằng chúng ta cùng đứng mũi chịu sào thời gian đầu, nhưng chắc chắn sẽ cùng nhau đặt những viên đá lát đường cho một cuộc hội nhập có những triển vọng tốt đẹp. Nếu anh/chị thấy có những thiếu sót trong phần câu hỏi dưới đây, xin cho chúng tôi biết để bổ túc. Trong trường hợp vì một lý do nào đó anh/chị không thể tham gia, xin cho biết để chúng tôi ngưng thúc giục làm phiền anh/chị.
 
Phần câu hỏi những nhà văn trong nước
 
1- Anh/chị muốn hay không muốn nêu danh tính?
2- Anh/chị tiếp cận ít hay nhiều với văn chương ở hải ngoại (đọc các tạp chí văn học, đọc trên mạng, quen biết giao lưu với những người cầm bút, v.v…)?
3- Anh/chị có bao nhiêu tác phẩm đóng góp với các tạp chí, báo mạng ở hải ngoại?
4- Anh/chị có tiếp cận với những tác phẩm của những nhà văn ở hải ngoại in trong nước không? Trong trường hợp có, anh/chị đánh giá những đóng góp đó thế nào?
5- Văn chương ở hải ngoại đã đóng góp gì, hoặc có thể đóng góp gì, vào văn hóa Việt Nam nói chung?
6- Vì dễ tiếp cận với trào lưu thế giới, những người cầm bút ở hải ngoại có thể đóng góp thế nào (viết, dịch…) về mặt lý thuyết và lý luận văn học với trong nước?
7- Những cơ quan chính thức trong nước như Hội Nhà Văn ở trung ương, các thành phố và địa phương có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy?
8- Những nhà xuất bản trong nước có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy những việc in ấn, phát hành, v.v…?
9- Những nhà văn trong nước khuyên gì để những nhà văn ở hải ngoại ứng xử thích hợp với khâu kiểm duyệt và in ấn trong nước?
10- Anh/chị chắc chắn có những suy tư về vấn đề hội nhập nói trên: xin anh/chị trình bày những suy tư đó, và những biện pháp để trong-ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương ở hải ngoại hay văn chương trong nước.
 
Phần câu hỏi những nhà văn ở hải ngoại
 
11- Anh/chị muốn hay không muốn nêu danh tính?
12- Anh/chị tiếp cận ít hay nhiều với văn chương ở trong nước (đọc các tạp chí văn học, đọc trên mạng, quen biết giao lưu với những người cầm bút, v.v…)?
13- Anh/chị có tác phẩm in ấn hoặc đóng góp với các tạp chí, báo mạng ở trong nước không?
14- Anh/chị có tiếp cận với những tác phẩm của những nhà văn trong nước in hoặc phát hành ở hải ngoại không? Trong trường hợp có, anh chị đánh giá những đóng góp đó thế nào?
15- Văn chương ở hải ngoại đã đóng góp gì, hoặc có thể đóng góp gì, vào văn hóa Việt Nam nói chung?
16- Vì dễ tiếp cận với trào lưu thế giới, những người cầm bút ở hải ngoại có thể đóng góp thế nào (viết, dịch…) về mặt lý thuyết và lý luận văn học với trong nước?
17- Những cơ quan chính thức trong nước như Hội Nhà Văn ở trung ương, các thành phố và địa phương có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy?
18- Những nhà xuất bản trong nước có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy những việc in ấn, phát hành, v.v…?
19- Những nhà văn ở hải ngoại ứng xử thế nào để thích ứng với khâu kiểm duyệt và in ấn trong nước?
20- Anh/chị chắc chắn có những suy tư về vấn đề hội nhập nói trên: xin anh/chị trình bày những suy tư đó, và những biện pháp để trong-ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương ở hải ngoại hay văn chương trong nước.
Những câu hỏi đặt ra nhằm gợi ý. Trả lời không cứ chỉ là có, hoặc không, xin anh/chị cứ viết thong dong, càng cung cấp nhiều thông tin càng tốt, nhất là với câu số 10 và số 20. Đợi hồi báo của anh chị cho đến tháng 2 năm 2008, cuộc hội luận dưới hình thức này sẽ có khả năng bắt đầu bằng cách đưa lên mạng những bài bình luận, những câu trả lời, và phản hồi của người đọc người viết để mọi anh, chị tham gia diễn đàn góp thêm ý.
Nói rằng giấy ngắn tình dài, là chúng tôi nói thật, mong mỏi chúng ta cùng nhau bắc một nhịp cầu trong vận hội hội nhập mới này.
 
Kính thư
 
Ban chủ trương
 
Nam Dao
Phạm Xuân Nguyên
Đỗ Quyên
Nguyễn Trọng Tạo
Nguyễn Đức Tùng