MỪNG VUI CÒN CÓ HÔM NAY (tiếp theo)

(Tiếp theo)

(Thanh Thảo, Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Du Tử Lê, Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Đức Tùng trò chuyện về thơ) 

Nguyễn Đức Tùng: Anh Nguyễn Thuỵ Kha nói với tôi rằng, thời kì đổi mới, thời Nguyễn Văn Linh, chính anh Nguyễn Duy và anh Trần Mạnh Hảo là hai nhà thơ thường xuyên đi đọc thơ trước những đám đông hàng ngàn người, và đọc rất hay. Thơ của hai anh được nhiều người yêu mến, và có nhiều bài đúng là thơ của quảng trường. 

Trần Mạnh Hảo: Thơ thì không được phục tùng nô lệ, nó phải chống lại sự đàn áp. Nhưng Nguyễn Trọng Tạo nói sai, thơ có một thứ nô lệ là nô lệ đàn bà như thơ của tôi đây. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Như thế các nhà thơ cứ nhằm em mà giã, cứ nhằm tình yêu mà viết, thì sẽ có thơ thứ thiệt. 

Du Tử Lê: Tôi nghĩ nên đặt lại cho đúng vai trò của người đọc. Tôi là người có cái may mắn được đi nói chuyện về thơ ở nhiều nơi, nhận được rất nhiều ý kiến của khán giả, hiểu được tâm trạng của họ. Nói thẳng ra rằng không có người đọc, người nghe, người dịch, người giới thiệu, thì không có nhà thơ. Có nghĩa là có cái dấu bằng như thế này: văn học nghệ thuật = người đọc, người thưởng ngoạn. Những ý kiến cho rằng những tác phẩm ít người đọc mà vẫn có giá trị là những ý kiến cực đoan, trừ vài trường hợp ngoại lệ. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi hiểu và rất chia sẻ với ý kiến của anh Du Tử Lê, nhưng tôi cho rằng nếu các nhà thơ cứ sốt ruột với các đám đông, với sự hâm mộ của người đọc, thì không bao giờ anh có thơ hay cả. Điều làm cho thơ mãi mãi là sự cần thiết chính là ở tác dụng lan toả của nó. Mà sự lan toả thì cực kì chậm. Cực kì. 

Nguyễn Đức Tùng: Điều mà anh Nguyễn Thuỵ Kha đang nói chính là khái niệm hình tháp trong thưởng ngoạn nghệ thuật, mà đỉnh cao nhất ở phía trên chính là các nhà thơ và giới phê bình có thẩm quyền về thơ. Càng đi xuống phía dưới chúng ta càng có nhiều độc giả hơn. Khái niệm đẳng cấp của độc giả là hoàn toàn có thật. Trong các ngành khoa học cũng thế. Tôi tạm chia độc giả ra làm ba loại từ thấp đến cao. 

  1. Người đọc sơ đẳng (beginning reader) 
  2. Người đọc trung bình (mature reader) 
  3. Người đọc xuất sắc (good reader). 

Dĩ nhiên sự phân chia này chỉ có tính tương đối. Một số độc giả có thể xuất sắc trong lĩnh vực này nhưng hoàn toàn mơ hồ trong lĩnh vực khác. Ví dụ tôi nhận thấy một số nhà văn Việt Nam, thậm chí rất có tài, lại hoàn toàn không có những hiểu biết sâu sắc về thơ, mà lẽ ra họ phải có. Những phán quyết của họ về thơ trong trường hợp này rất nguy hiểm. Điều này dĩ nhiên cũng đúng khi một số nhà thơ tìm cách phê bình tiểu thuyết, hoặc khi các nhà phê bình chuyên về văn xuôi đi phê bình thơ… 

Tác động của một tác phẩm nghệ thuật tuỳ mức dễ hiểu hay khó hiểu mà tập trung vào tầng lớp nào đầu tiên. Một tác phẩm dễ hiểu tác động ngay lập tức đến nhóm người đọc trung bình, vì vậy gây được tiếng vang sớm và lớn. Một tác phẩm khó hiểu sẽ tác động trước tiên vào nhóm thứ ba và cần rất nhiều thời gian để lan toả, nói như anh Nguyễn Thuỵ Kha. Cần nhớ rằng dễ hiểu hay khó hiểu, popular hoặc unpopular, hoàn toàn không có nghĩa là có giá trị thấp hay cao trong nghệ thuật. Nhưng nó nói lên tính cũ và mới. Càng táo bạo và cách tân chừng nào càng khó hiểu chừng ấy. Đó là cái khó hiểu rất đáng quý. 

Nhưng có những tác phẩm vừa ra đời đã gây tiếng vang ngay ở nhóm người đọc thứ nhất, những người đọc kém hay sơ đẳng. Những tác phẩm như thế theo tôi thường không có giá trị nghệ thuật, hoặc là quá cũ, hoặc là có vẻ mới nhưng là hàng giả. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Uống một ly rượu mạnh, nhỏ, cực kì ngon, thì sức lan toả của nó rất lớn. Nó làm anh chết lúc nào không biết. 

Du Tử Lê: Bi kịch của một số người làm thơ trẻ hôm nay chính là quá khao khát đám đông. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Họ thèm khát đám đông. Tâm lý của người Việt Nam hiện nay vẫn là tâm lý bầy đàn. Chúng ta không có thói quen sống cô đơn. Chúng ta không thể sống cô đơn được một phút. Cô đơn quả thật là đau khổ. Nhưng nỗi cô đơn ấy sẽ lan toả bằng nghệ thuật và sẽ xâm chiếm độc giả. 

Thơ của tôi có rất ít độc giả, ít hơn nhiều so với thơ của anh Nguyễn Trọng Tạo, anh Trần Mạnh Hảo, và có thể anh Thanh Thảo. Nhưng không vì thế mà thơ tôi không có độc giả riêng của nó. Anh Tạo có năm người đàn bà yêu anh, còn tôi có thể chỉ có một người. 

Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng có năm người đàn bà, nhưng bốn người kia không ai biết. 

Trần Mạnh Hảo: Bốn người kia không bị lộ (cười). Tôi hiểu anh muốn nói rằng một người yêu mình tha thiết thì còn hơn năm người yêu mình lớt phớt. Nhưng tôi muốn nói rằng đám đông không có tội gì đối với thơ. Không phải do đám đông mà thơ dở đi. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi không cho là đám đông có tội, nhưng nếu nhà thơ quan tâm quá đến đám đông, thì anh phải hạ thơ của anh xuống. 

Trần Mạnh Hảo: Thật ra thì có đám đông hay không cũng không quan trọng, vấn đề là thơ của anh có hay hay không. 

Nguyễn Thuỵ Kha: Nhưng khái niệm đám đông rất quan trọng. Khi Dương Tường viết: 

Chiều buông đầy những tiếng thở dài” 



tôi cho đó là một câu cực kì dễ thương, được nhiều người thích. Nhưng câu sau này của Tường Vân, một hoạ sĩ, rất tuyệt, mặc dù ít người thích. 

Em ơi 
Chiều đang bám dần lên” 



Mới thật là câu thơ hay, chứ câu của anh Dương Tường thì vẫn còn có chút cải lương, vẫn cần đến đám đông. 

Nguyễn Đức Tùng: Câu của Tường Vân về ý tưởng thì độc đáo hơn, nhưng câu của Dương Tường về tính nhạc thì cao hơn hẳn. 

Trần Mạnh Hảo: Thưa các anh, thơ miền Bắc và thơ miền Nam nhìn nhau như thế nào? Đây là một câu hỏi hay. Chúng ta vẫn chưa nói hết ý mình. Thế thì các nhà thơ chúng ta nhìn nhận nhau như thế nào? 

Nguyễn Thuỵ Kha: Hồi nãy anh Trần Mạnh Hảo có yêu cầu những vị nào hút thuốc thì ra ngoài để hút để không khí được thoáng trong buổi làm việc. Bây giờ chúng ta xả láng, tự do hút thuốc, anh Trần Mạnh Hảo chịu khó ra ngoài. 

Trần Mạnh Hảo: Nếu thế thì tôi cũng sẽ hút ở đây. (Mọi người cùng cười

Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi xin trả lời câu hỏi của anh Trần Mạnh Hảo. Thơ Việt Nam là một dòng sông rất lớn, nước chảy rất mạnh, nhưng nó có hai bờ cách biệt. Những người đứng từ những phía khác nhau nên thực sự tìm cách đọc nhau, đọc hết và đọc kĩ. Đọc để hiểu và đọc để sống. 

Hiện nay điều đó là quá ít. 

Trừ một vài người đặc biệt như Bùi Giáng hay Nguyên Sa, tôi và những người như tôi không được biết nhiều lắm về văn học miền Nam. Chúng tôi cũng ít có điều kiện để đọc văn học hải ngoại. Chúng ta cần làm việc nhiều hơn về mặt này. Rất nhiều. 

Có như thế thì chúng ta mới đi đến được sự giao hoà. 

Nguyễn Đức Tùng: Trên một tờ báo ở phi trường Đài Loan, trong khi ngồi chờ đổi chuyến bay về Việt Nam cách đây mấy ngày, tôi đọc được câu này của bà Rosalyn Carter, phu nhân cựu tổng thống Mỹ, và nhớ đại ý: chúng ta hãy làm những gì có thể, để thể hiện lòng quan tâm của mình đối với người khác, nhất là với những người khác biệt với chúng ta, và bằng cách đó, làm cho thế giới ngày một trở thành nơi chốn tốt đẹp hơn. 

Lịch sử không phải là quá khứ. Lịch sử là quá khứ cộng với cách chúng ta nhìn về quá khứ. Nó chính là cách giải thích và diễn dịch của chúng ta đối với quá khứ. Lịch sử cũng chính là hiện tại, vì vậy nó nằm trong tay mỗi chúng ta. 

Học cách nhìn nhận lịch sử cho đúng không phải là khơi dậy chia rẽ và hận thù. Mà ngược lại. Hoàn toàn ngược lại. Nó cần có sự dũng cảm trí thức. Chính là khởi đầu của sự hoà hợp trong ý kiến của anh Thanh Thảo, hay giao hoà trong ý kiến của anh Nguyễn Thuỵ Kha. 

Nhưng nhìn nhận nhau phải đặt trên sự thấu hiểu giữa những nhóm người khác nhau. Ví dụ giữa người lớn tuổi và nhỏ tuổi hơn, giữa người bị đấu tố trong cải cách ruộng đất và người tham gia đấu tố, giữa người Nam và người Bắc, người trong nước và hải ngoại, trí thức cộng sản và trí thức quốc gia vân vân. Tôi tin sự hoà hợp hay giao hoà của dân tộc bao giờ cũng cần qua một số quá trình căn bản. Ví dụ năm quá trình sau đây: sự thấu hiểu; sự thuyết phục nhau; sự xin lỗi và tha thứ lẫn nhau; giải thích lịch sử một cách công bằng; và cùng làm việc vì tương lai. Tôi nghĩ rằng đó là cách để chữa lành những vết thương tâm hồn và vô thức cộng đồng của người Việt Nam. Một thứ vô thức tập thể cho đến nay vẫn còn bị tổn thương trầm trọng. Và sẽ lâu dài. 

Ở hải ngoại, tôi vẫn có dịp gặp những đồng bào quan tâm đến đất nước, và tôi nhận thấy họ có rất ít hiểu biết khách quan về tình hình thực tế của Việt Nam bây giờ. Khi tôi về trong nước, tôi cũng ngạc nhiên là những người trong nước, thuộc loại trí thức và quan tâm đến chính trị, lại cũng không biết gì nhiều về đồng bào hải ngoại. Tôi đọc trên báo chí trong nước, ngay cả trên các diễn đàn internet hiên nay, viết về người Việt hải ngoại, lại càng thấy rõ điều đó. Rất tiếc, đó không phải là cuộc sống của tôi, gia đình tôi, và của bạn bè tôi bây giờ. Người ta không hiểu gì về chúng tôi thì họ viết thế nào được? Cũng như ở hải ngoại, họ không biết gì về các anh ở đây, thì viết thế nào được? Không hiểu nhau thì làm sao mà hoà hợp? Vì vậy phải thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Lấy sự hiểu biết chống lại thành kiến, lấy sự tương kính chống lại khinh miệt, lấy sự cảm kích chống lại thói vô ơn. 

Nhà nước hiện nay chưa bao giờ có một triết học hoà giải như thế cả. Tôi nghĩ là về phương diện này, họ vớ phải những chuyên viên cố vấn rất kém. Nhưng một số các nhà lãnh đạo cũng có thực tâm. 

Tôi tin cái đẹp của tâm hồn Việt Nam, của làng xóm và đất nước mình, là có thật. Ở cả hai miền, trước đây và bây giờ. Nhưng chúng đang mai một đi, cần phải giữ lại. Chúng ta cần nói với mọi người rằng thật ra họ có thể sống vui hơn, thong thả hơn, mà không cần phải giẫm đạp lên nhau nhiều đến thế. Tôi thấy điều đáng tiếc này ở mọi nơi, ở trong nước và ở hải ngoại. Tôi nhớ đến một bài hát của Trịnh Công Sơn. “Em chưa biết quê hương thanh bìnhEm chưa thấy xưa kia Việt Nam.” 

Nguyễn Thuỵ Kha: Sự nhìn nhận nhau không chỉ ở trong vấn đề Bắc Nam mà còn trong vấn đề già trẻ. Những người làm thơ trẻ có những đặc điểm sau đây: trước hết là họ trẻ, họ có những điều mà chúng ta không có được, nhưng họ lại không có những điều mà chúng ta có. Những điều không có ấy đang làm hại họ, muốn vượt qua thì chỉ có cách là học hỏi. Nói về phương diện nghệ thuật, theo tôi thơ trẻ hiện nay là chưa trẻ. Chưa trẻ vì nó thiếu một cấu trúc trẻ. Trong thơ, cấu trúc là quan trọng nhất. Những người làm thơ trẻ hiện nay vẫn chưa thoát được thơ tiền chiến, và đó là điều đau khổ cho họ. 

Tôi xin kể lại trường hợp của mình 

Tôi nhớ một kỉ niệm về Xuân Diệu. Người ta thường nói Xuân Diệu là người bảo thủ, nhưng đối với chúng tôi thời ấy, ông là một người có tinh thần cởi mở và rất trẻ. Bài thơ của tôi: 

Những giọt mưa đồng hành 

Những giọt mưa ngồ ngộ say mê 
Đám mây nặng vỡ ra giữa gió 
Những đứa con 
Ồn ào không gian 
Cười nói 
Những giọt mưa chẳng hề mệt mỏi 
Gieo hạt triền miên 

Người lính trú vội mái hiên 
Rồi lại đi mảnh ni lông khoác chéo 
Anh lẫn vào mưa lúc nào chẳng hiểu 
Ngỡ mưa dệt nên anh 
Có một đứa trẻ con từ trong anh chạy nhanh 
Nhập vào đám trẻ con trần truồng 
đang hò reo giữa phố 
Có một người nông dân từ trong anh hớn hở 
Xòe tay đồng hạn đón mưa 

Có một người lính Trường Sơn từ 
trong anh năm xưa 
Vội vã vắt áo quần ướt mưa hơ lửa 
Có một người… có một người nào nữa 
Người lính bước nhanh 
Anh và mưa như thế đã bao lần 

Người lính đi 
Đi qua thành phố 
Bao chân trời thử thách đợi anh 
Trong cuộc hành trình chưa nghỉ 
Mưa và anh là bạn đồng hành. 



lúc gởi đến tờ báo đã bị vứt vào sọt rác. Có người còn nói rằng thơ Nguyễn Thuỵ Kha không có tính Đông phương. Anh Xuân Diệu là người đã yêu cầu toà soạn cho anh coi lại tất cả những bài thơ bị vứt vào sọt rác. Nhờ thế anh đã nhặt được bài thơ của tôi. Lúc đó là năm 1982, nhà tôi ở gác ba, cầu thang rất dốc, Xuân Diệu thì đã ngoài sáu mươi tuổi. Ông vừa hào hển đi lên vừa xúc động bảo tôi: “Kha ơi, những thằng khác nó viết thơ toàn là thơ biên giới, hải đảo, công trường theo đúng chính sách, nhưng em làm thơ khác chúng nó, em làm thơ về cơn mưa. Em sẽ đi rất xa.” Sau khi được giải báo Văn nghệ – giải nhì, có ba bài thơ khác được giải nhất và hai bài cùng giải nhì như tôi, có lẽ vì những lý do chính trị nhiều hơn là nghệ thuật – một người thứ hai nữa đã đến gặp tôi và nói: đây mới là thơ thật. Đó là Văn Cao. Những điều ấy tôi không nói với ai cả, bây giờ mới nói. Câu chuyện mà tôi kể lại chứng tỏ rằng cái mới bao giờ cũng được những thế hệ đi trước nhận ra, vấn đề là những người trẻ là phải làm ra cái mới thực sự. 



Có người nói rằng thơ Nguyễn Thuỵ Kha không có tính Đông phương. Hình như là Trinh Đường. 

Vầng trăng ai xẻ làm đôi 
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” 



của Nguyễn Du so với bài “Hai nửa vầng trăng” của Hoàng Hữu thì câu nào hay hơn? 



Có lần được gặp Tố Hữu trong một hội nghị văn học ở Hà Nội, tôi đến bên cạnh ông ấy và nói rằng: "Thơ của anh mà bỏ đi sáu chữ ôi, ơi, hỡi, ư, hãy, chào thì chẳng còn gì cả.” Tôi nhớ hôm đó Tố Hữu đổi sắc mặt, im lặng một lúc rồi bảo tôi: “Tuổi của Kha chắc vào khoảng tuổi của con mình đấy nhỉ?” Tôi trả lời: “Thưa anh, đúng là em bằng tuổi con anh. Nhưng anh thì không đẻ ra em được. Anh chỉ đẻ ra được con của anh mà thôi. Bố mẹ em mới đẻ ra em.” 



Vì vậy mà nói Nguyễn Thuỵ Kha không phương Đông là nhầm. Tuy nhiên cấu trúc bài thơ của tôi là một cấu trúc rất mới, vì vậy một số người cho rằng thơ của Nguyễn Thuỵ Kha đã bị Tây hoá. Ngược lại thơ của Kha cực kì phương Đông. Văn Cao là người thứ hai sau Xuân Diệu thấy được cái mới trong thơ tôi. 



Người thứ ba là Đặng Đình Hưng. Tôi còn nhớ một buổi sáng dàn dụa không khí mùa thu ảm đạm như ùa ra từ bức tranh những người ăn khoai tây của Van Gogh, tôi và anh Đặng Đình Hưng ngồi trong một quán nước tồi tàn. Anh nói với tôi về bài thơ, mà theo anh là rất mới. 



Tất cả những điều tôi nói đây là muốn nói với các anh rằng những người làm mới thơ bao giờ cũng phải trả một cái giá, nhưng rồi sẽ có những người nhận ra con đường mới của chúng ta. Việc nhìn nhận như thế bao giờ cũng cần có thời gian, và bao giờ cũng khởi sự từ những đẳng cấp cao về nghệ thuật. Một bài thơ được đám đông vỗ tay ồn ào thì lại không cần sự lan toả chậm như thế. 



Trở lại với ý của anh Trần Mạnh Hảo liên quan đến chuyện chúng ta nhìn nhận nhau như thế nào, thì tôi đồng ý với anh Du Tử Lê là chúng ta cần mở rộng biên giới của thơ Việt Nam. Nếu bây giờ có một người nào đó đẩy được thơ Việt Nam lên đỉnh cao, làm cho cả thế giới nhìn nhận chúng ta, thì tôi sẽ hết sức ngưỡng mộ, và quỳ xuống kính trọng họ. Trong tôi không có sự đố kỵ. Trong hầu hết các nhà thơ Việt Nam có tư tưởng tự do đều không có sự đố kỵ hay sự phân biệt giữa thế hệ đi trước và thế hệ đi sau, giữa nhà thơ miền Nam và nhà thơ miền Bắc, trong nước và hải ngoại. Những kiểu phân biệt như thế rất là vớ vẩn. 



Điều tôi vừa nói cũng đúng trong việc chúng ta nhìn nhận những người viết trẻ theo xu hướng cách tân. 

Nguyễn Đức Tùng: Có hai ý sau đây. Một là thái độ của chúng ta đối với những người làm thơ trẻ và thơ mới. Thái độ đó là sự cởi mở, nhìn nhận và ủng hộ. Hai là sự thưởng thức, sự khoái cảm hay cảm thụ. Tại sao đọc những bài thơ của các thế hệ lớp trước, xuất xứ từ miền Nam như Tô Thuỳ Yên, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Nguyễn Bắc Sơn…, xuất xứ miền Bắc như Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Trọng Tạo… nhiều người thế hệ trước đây, vào thời của họ, thấy rung động và thấy thích, trong khi hiện nay các độc giả trẻ trước những người viết trẻ cùng thời, ở Sài Gòn, ở Hà Nội, ở hải ngoại, còn chưa thực sự tìm được sự rung động đó? Ngoài sự ủng hộ ra, trong thâm tâm các anh có thực sự yêu thích các tác phẩm mới này không? Có thực sự không? 


Nguyễn Thuỵ Kha và Trần Mạnh Hảo (ảnh: Trần Diệu Tiên)

Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi cho rằng thái độ ủng hộ như anh Nguyễn Đức Tùng vừa nói là cần thiết, nhưng giá trị thẩm mĩ của các bài thơ cách tân lại là một chuyện hoàn toàn khác. Trong khi chờ đợi những tác phẩm thực sự có giá trị, có lẽ người đọc không nên mất thì giờ vào việc trách cứ họ mà nên tìm hiểu xem tâm trạng của giới trẻ hiện nay là gì. Sau khi người ta đã quá no nê những vết thương chiến tranh, sau khi đã quá thoả mãn những nhu cầu căn bản của xã hội, tâm trạng của họ là một tâm trạng chán chường và buông thả, kiểu như nhóm Beatles ở Anh trước đây. Các bạn trẻ hiện nay ở Việt Nam đang sống khá vui tươi. Các bạn đang làm những điều ra vẻ chống đối với những cái cũ, ra vẻ ta đây là hiện đại, nhưng thật ra các bạn đang lặn ngụp trong những nỗi ê chề và chán chường chật hẹp. 



Trần Mạnh Hảo: Anh Nguyễn Thuỵ Kha nói như vậy là đúng nhưng có thể chưa đủ. Các bạn trẻ hiện nay, tôi đọc họ rất kỹ, tôi thấy thế này: họ không có kinh nghiệm sống. Mà kinh nghiệm sống không phải chỉ là vấn đề thời gian. 



Nguyễn Đức Tùng: Vậy thì nó là vấn đề của bản lĩnh tâm hồn chăng? 



Trần Mạnh Hảo: Đúng thế. Và họ cũng không chạm được đến nỗi đau chung của xã hội. Các bạn trẻ chưa có nỗi đau. Tôi nghĩ rằng không có nỗi đau thì không có thơ ca. 



Nguyễn Thuỵ Kha: Thật ra thì thơ họ có biểu hiện chân thành của sự chán nản. Mà chán nản thì cũng là nỗi đau đấy chứ. Có lẽ thế này mới đúng: thơ của các nhà thơ trẻ bây giờ không có cái rung động thật. Họ có thể đau thật, họ có thể chán nản thật, nhưng họ không làm cho thơ của họ trở thành sự rung động. Anh đang ăn uống no say phè phởn thì anh làm cho người ta rung động thế nào được? 



Trần Mạnh Hảo: Tôi làm thơ không hề để ý đến chuyện mới và cũ. Theo tôi không có thơ mới và thơ cũ mà chỉ có thơ hay và thơ dở. 



Nguyễn Đức Tùng: Eliot có nói: it có điều gì đã từng xảy ra đối với một đất nước có tầm quan trọng sánh được với việc phát minh ra một thể thơ mới (few things happen to a nation as important as the discovery of a new form of verse). Thưa anh, như vậy rõ ràng việc sáng tạo các hình thức mới, làm mới về nghệ thuật là chuyện hết sức quan trọng. 



Hay là anh không ủng hộ cố gắng cách tân và cách tân hình thức, mà tôi cho là rất cần thiết, của các nhà thơ trẻ hiện nay? 



Trần Mạnh Hảo: Nhưng muốn làm mới hay làm cũ thì cũng phải dựa trên sự xúc động thực sự, không có xúc động, thì anh làm mới cách gì cũng không mới được. Tại sao có những bài thơ mỗi người đọc lại xúc động một cách khác nhau. Đối với một người đọc, mà đọc nhiều lần, thì mỗi lần đọc thì lại có một sự xúc động khác nhau. Chỉ có những tác phẩm làm người ta sảng khoái tinh thần, dù là vui hay buồn, hân hoan hay đau đớn, thì mới gọi được là thơ hay. Vậy cái cốt lõi của sự mới trong thơ là làm cho người ta có những nỗi xúc động mới. Đó là thơ anh mới. 



Tôi xin đọc một bài thơ. 



Vùng đất tính từ sông Nhật Lệ trở vào đến sông Thu Bồn, chính là vùng đất lãng mạn. Vùng đất ấy nó lạ lắm. Bài thơ này nói về Huyền Trân Công chúa vĩnh biệt người yêu là Trần Khắc Chung, có tên là “Vĩnh biệt tình yêu”. 

Vĩnh biệt tình yêu 

Đêm mở hàm cá sấu 
Nuốt dần em vào chỗ không anh 
Châu Ô châu Lý 
Hơi thở là gió bấc chạy vòng quanh 
Chẳng lẽ em không còn thấy 
Gương mặt anh chạm khắc nét Hồ Tây 

Cái dáng vóc như sông Hồng vụt chảy 
Đôi mắt Việt to hơn mọi thứ trên đời 

Em đi 
Những giận hờn ở lại tắm sương đêm tháng mười 
Những hẹn hò bơ vơ ngoài đường vắng 

Rạ rơm còn có mắt 
Thương người yêu mất đôi 

Đất đâu nỡ ăn lời thề thốt 
Xứ Hời xa 
Xứ Hời xa hơn chết 
Tìm nhau sao được người ơi! 
Những con đường ngày nào ta gặp 
Giờ cuốn vào ruột em 
Cái nhện nào đêm nay giăng tơ 
Đừng bắt người yêu mắc lưới 

Đêm quê hương 
Trái tim em như quả táo non rụng bên đường 
Xin anh đừng nhặt 
Cứ để tim em phập phồng ngoài gió ngoài sương 

Phải em vừa đi qua thời con gái 
Qua thời đàn bà 
Qua thời xanh cỏ 
Người ơi, người chớ xót xa 

Em yêu anh như yêu nước Việt 
Chưa bao giờ người đẹp như đêm nay 
Người là sông Hồng đứng dậy 
Cầm gươm tiễn kẻ đi đày 

Gà ơi sao vội gáy 
Em xin đêm dài thêm một gang tay 

Thuyền vua Chiêm tù và đã rúc 
Đêm hãy dài thêm bằng sợi tóc 
Cho em được nối với anh lần cuối cùng 
Nhưng sợi tóc buộc đôi ta đã đứt 

Nước Việt ơi 
Em yêu người đến sợ hãi 
Nước Việt đứng như bờ tre vẫy 
Em đi rồi tre đổ lá vào anh 

Kìa bóng anh ngoài cổng thành như xoáy lốc 
Đừng nhìn 
Đừng vĩnh biệt em 
Sợ em rơi xuống vực 
Tia mắt người dài hơn dây cột chân 

Phải nước Việt là anh cầm đuốc 
Đứng muôn đời thương nhớ đợi Huyền Trân 
(Sài Gòn 1984) 



Nguyễn Thuỵ Kha: Bài thơ này hay lắm (mọi người vỗ tay



Trần Mạnh Hảo: Tôi xin đọc một bài nữa, đã đăng trên báo Văn nghệ Thanh Hoá. Lúc ấy nhà văn Đặng Ái làm chủ nhiệm. Bài thơ đăng xong thì anh ấy bị mất chức. Bài này tôi làm năm 1979. 

Khuất Nguyên 

“Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt” 
Sở vương đài tạ không sơn khâu” 
(Trích bài “Giang thượng ngâm” của Lý Bạch) 

Tóc bạc cả nồi cơm 
Ta biết làm gì với chòm râu rơm rác 
Với vòm trời úp xuống như nơm 
Cây ngô đồng bạn ta mùa thu ăn gần hết 

Nước Sở ơi! 
Đừng bắt ta nhìn người lịm chết 
Hạc bỏ trời 
Tùng bách cũng mồ côi 
Cả một triều đình bị điếc 
Tai Sở vương làm thối lưỡi ta rồi! 

Sao chuột không khoét mắt ta đi 
Đời ngủ cả chỉ thức toàn mắt lá 
Ta đang nhìn thấy gì? 
Vua tin dùng chó má 
Hoạn quan đi đầy đường 
Hiền nhân vào ngực đá 

Sao loài lươn không vấy bùn vào hồn ta 
Đời đục cả chỉ còn trong nước lã 
Hay ta mặc áo giấy vào đi theo ma 
Cái xứ sở toàn đeo mặt nạ 
Con cáo ngồi thương đứt ruột con gà 
Hỡi xác chết trôi làm thuyền cho quạ 
Tro trấu nào trang điểm mặt mày ta! 

Ta thương triều đình trong tay nghịch đảng 
Thuyền độc mộc quốc gia bơi một mái chèo 
Mái chèo mang hình lưỡi kẻ nịnh hót 
Chó kiêu ngạo nhảy chồm lên bàn độc 
Muốn yên thân phải sống thật đói nghèo 
Con bò thông minh hơn nhà bác học 
Thơ phú nào cũng rặt bọn ăn theo 

Sở từ Sở từ 
Khúc Ly tao hát đứt cổ 
Thơ viết rụng từng đốt tay 
Ôi nước Sở 
Sao chỉ toàn mật vụ với ăn mày 
Muốn nghĩ một điều gì lại sợ 
Đêm nhìn lên trời cũng nổi da gà… 

Chừng như gió cầm tù hai ốc tai ta 
Khi hôn quân vờ làm minh chúa 
Thì đất này còn lắm khúc Mịch La 

Như vệt nhăn trên vầng trán nước Sở 
Nghe sông nấc tiếng tù và 
Xin vĩnh biệt mặt trời đoan ngọ 
Sao kiếp người lại buồn hơn kiếp ma? 

Ta gửi lại một vòm trời hình sọ 
Để trầm mình trong chính khúc thơ ta 
(Sài Gòn 1979) 



Nguyễn Thuỵ Kha: Đóng góp của anh Trần Mạnh Hảo trong những bài thơ có tính cảm khái lịch sử rất là lớn. 



Một thân hữu văn nghệ: Hôm nay tôi hân hạnh được đến dự cuộc gặp mặt thú vị và kì lạ này. Tôi chỉ là một độc giả thường đọc các anh. Tôi là một cựu sĩ quan miền Nam. Nghe anh Nguyễn Thuỵ Kha, anh Nguyễn Trọng Tạo, anh Trần Mạnh Hảo đọc thơ thì tôi nghĩ rằng chúng ta thật là may mắn mà còn có các anh, làm cái gạch nối giữa lịch sử và thế hệ bây giờ. Không có cái gạch nối tâm hồn ấy thì dân tộc chúng ta sẽ lang thang trôi dạt chẳng biết về đâu. May ra còn có một cái nôi, còn có những thứ gì đó như là vong linh truyền lại ở các anh. Người đọc thơ hôm nay vẫn rất yêu thơ và vẫn chờ đợi rất nhiều ở các anh cũng như thế hệ người viết trẻ. 



Trần Mạnh Hảo: Tôi xin đọc một bài về Nguyễn Du. 

Đêm viết Kiều 

“Bất tri tam bách dư niên hậu 
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” 
(Tố Như) 

Đêm đặc thành thỏi mực 
Tiếng vạc mài nghiên 
Từng giọt, từng giọt máu đêm 
Nhỏ xuống Thuý Kiều! 

Bút ta nào phải mũi giáo 
Cớ sao từng chữ bị thương 
Ta đâu nỡ làm đau tờ giấy bản 
Huống hồ em tài sắc 
Thương em mà bút đoạ đày em 

Phải ta đã cùng em mười lăm năm đất Bắc 
Gió bấc ăn dần từng mái tranh 
Đêm mọt kêu rụng tóc 
Sợi rau muống buộc đôi ta bền chặt 
Pho sách thánh hiền không đổi được miếng ăn 

Trang giấy lặng như đồng chiêm trắng 
Câu thơ ta bắt ốc mò cua 
Củ khoai không vùi trong bếp 
Củ khoai vùi trong giấc ta mơ 

Phải ta đã cùng em đi hành khất 
Xòe tay ăn mày núi vòm trời 
Ăn mày phù sa hạt gạo 
Ăn mày dòng sông biển khơi 
Ăn mày con người lòng nhân ái 

Đêm nay em theo ta về Phú Xuân 
Lưu lạc trên trang sách 
Em đừng chết đuối trên dòng sông xoáy nước 
Như thuở Tiền Đường 
Ta nhờ vãi Giác Duyên ngồi gác 
Đón em về từ cuối màn sương 

Ta ngồi viết 
Trời đêm Phú Xuân như ao nước đục 
Phải em là hồn con cò không siêu thoát được 
Đòi thơ nước trong 
Những câu hát tha phương cầu thực 
Cùng em đòi một tấm lòng 

Ta ném mọi giáo điều lên mặt Thần Mày trắng 
Để lấy tình yêu Thúc Sinh 
Ta trả mũ cánh chuồn cho Hồ Tôn Hiến 
Để làm Từ Hải 
Ta là anh chài lưới lặn xuống dòng đêm 
Tìm lại cho em chàng Kim thuở ấy 

Ta ngồi viết 
Sông Hương bay thành nét thảo câu thơ 
Núi Ngự Bình như anh xẩm ngồi hát 
Biển ngoài kia lục bát tràn bờ 

Kiều ơi! 
Thôi em đừng khóc 
Tiếng vạc đã mài hết một thỏi đêm 

Cuộc đời dồn chúng ta vào trang giấy trắng 
Như dồn tới chân tường định mệnh 
Từng đêm ta đập bức tường 
Vầng trăng vỡ lúc ta căm giận 
Lại nguyên lành khi cất tiếng kêu thương 
(Sài Gòn 1982) 



Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghe bài thơ của anh Trần Mạnh Hảo ngâm thấy xúc động và nghe bài thơ của anh Nguyễn Thuỵ Kha cũng thấy hay. Bây giờ tôi xin đọc tiếp những phần khác của bài thơ của Szymborska. 



Tôi nghĩ rằng để đi đến chỗ nhiều con sông đổ về biển cả, đến ngày dân tộc đoàn viên, chúng ta cần rất nhiều người, làm nhiều việc, trong đó vai trò của văn học nghệ thuật, như anh Du Tử Lê và anh Nguyễn Thuỵ Kha nhấn mạnh, là rất lớn. 



Nói như Szymborska, có những người phải xắn tay áo lên để đi nhặt các mảnh vỡ, dọn dẹp đường phố, xây lại nhà cửa, thậm chí chôn cất người chết: 

Phải có người đi vác cột, xây tường 
Phải có người lắp gương, dựng cửa” 

(Someone’s got to lug the post 
To prop the wall 
Someone’s got to glaze the window 
Set the door in its frame



Chúng ta rất muốn thấu hiểu nhau, thương nhau, có như thế thì mới có thể cùng chôn cất quá khứ đau buồn, như trong bài thơ của anh Nguyễn Thuỵ Kha mà lúc bắt đầu tôi có nhắc. 

Phải có người lúc này lúc kia 
Đào lên được những tranh cãi rỉ sét 
Dưới bụi rậm, và liệng chúng ra xa” 

(From time to time someone still must 
Dig up a rusted argument 
From underneath a bush 
And haul it off to the dump



Nhưng cũng có người chẳng cần… phải làm gì cả, theo kiểu thơ mộng như thế này: 

Phải có người nằm dài trên cỏ 
Cao ngập đầu che khuất nhân duyên 
Miệng ngậm nhai chơi vài cọng lá 
Ngẩn ngơ nhìn mây trắng bay lên” 

(Soemeone’s got to lie there 
In the grass that covers up 
The cause and the effects 
With a cornstalk in his teeth 
Gawking at clouds



(The End and the Beginning, W. Szymborska, bản tiếng Anh của Baranczak và Cavanagh) 



Nguyễn Trọng Tạo: Bài thơ này rất lạ, rất hay. 



Trần Mạnh Hảo: Hay lắm. 



Nguyễn Đức Tùng: Như thế rõ ràng cái hay của thơ là khác nhau. Những nỗi xúc động cũng khác nhau. Đối với người đọc, có khi họ cũng không cần biết tại sao họ xúc động, cũng như người đi vào tiệm ăn, gặp món ăn ngon thì họ thích, mà không cần biết trong bếp người ta nấu nướng như thế nào. Nhưng những người làm thơ là những người nấu ăn, và những nhà phê bình thơ là người đi thẩm định món ăn, nếm thử trước cả những người khác, thì phải biết nỗi xúc động đến từ đâu. Rõ ràng là có sự khác nhau về khuynh hướng thẩm mĩ giữa ba bài thơ, một của anh Hảo, một của anh Kha, và một của nhà thơ Ba Lan. 



Nguyễn Thuỵ Kha: Có sự khác nhau về cấu trúc. 



Nguyễn Đức Tùng: Cấu trúc của bài thơ anh Nguyễn Thuỵ Kha mới hơn cấu trúc của bài thơ anh Trần Mạnh Hảo, nhưng không có nghĩa nhất thiết là nó hay hơn. Chúng hay một cách khác nhau. 



Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi là một người viết nhạc. Mà nhạc thì cần có cấu trúc. Thưa với các anh, các nhạc sĩ nắm rất vững cấu trúc. Tôi cũng như anh Nguyễn Trọng Tạo thường mở rộng cấu trúc âm nhạc của thơ. Tôi tìm thấy một lối đi riêng của tôi. Mà nó là cái tạng của tôi. Đó là cái tạng của một người đã từng đi qua những đau khổ trong cuộc đời, đau nỗi đau của chiến tranh và nhân thế. Nỗi đau của những nạn nhân. 



Nguyễn Đức Tùng: Tôi đã ngắm rất kĩ hình của nhà thơ Szymborska. Rõ ràng đó là một phụ nữ quý tộc. Về cuối đời, bà sống một cuộc sống tương đối nhàn nhã của tầng lớp trí thức cao cấp, và nói như anh Nguyễn Thuỵ Kha, là trong trạng thái vật chất đầy đủ. Vậy thì tại sao bà lại làm được những câu thơ chiến tranh hay đến nỗi làm xúc động chúng ta là những người trong cuộc, những kẻ thống khổ nhưng lại không làm được những câu thơ như bà. Vấn đề ở đây là sự xúc động và tài năng chứ không phải là những kinh nghiệm cụ thể trong đời sống. 



Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi rất thích bài thơ anh vừa đọc. Tôi cũng đã từng làm những bài thơ có khuynh hướng thẩm mĩ kiểu đó, khi tôi viết về cuộc chiến ở Quảng Trị năm 1972, trước những tổn thất lớn lao của đồng đội chúng tôi, và sự đau thương của dân tộc chúng ta trên một chiến trường cụ thể. 



Tôi ví dụ như thơ Đường, chúng nằm trên một mặt phẳng. Những bài thơ Đường rất hay nhưng đều nằm trên một mặt phẳng như thế. Thơ hiện nay nằm trên một chiếu kích khác, trong một hình khối. Ý của anh Nguyễn Đức Tùng về các khuynh hướng thẩm mĩ khác nhau là rất đúng. 

Đưa người yêu qua nhà người yêu cũ 
Rơi cơn mưa ban trưa 
Chợt thấy mình tách làm hai nửa 
Nửa ướt bây giờ, nửa ướt xa xưa” 



Tôi tin rằng ngày xưa các cụ không làm thơ như thế. Làm xong bài thơ này tôi cực kì sung sướng, vì nó nói lên cái tâm trạng của mình, của một người đàn ông thời bây giờ. 



Một thân hữu văn nghệ: Tôi là một người đọc của các anh. Nếu xếp loại độc giả thì tôi là một người đọc kiệt xuất (cười). Tôi tin rằng thơ hay phải xuất phát từ nỗi đau chân thực. Nhà thơ mà không hoá thân được với cuộc đời, như anh Nguyễn Đức Tùng vừa nêu về trường hợp nhà thơ Ba Lan, thì dù anh đứng ở đâu, cố làm mới cách gì, cũng không chinh phục người đọc là chúng tôi đây. Anh có nghèo khổ bần cùng mà không làm được thơ hay thì những kẻ nghèo khổ bần cùng như anh cũng chẳng rung động với anh. Thưa anh Trần Mạnh Hảo, đây là lần đầu tiên tôi gặp anh, lần đầu được nghe anh đọc thơ. Nghe thơ thì hiểu được tại sao anh đã dấn thân vào con đường mà anh chọn lựa. 



Giới trẻ hôm nay hình như không có những nỗi đau lớn lao như thế hệ trước đây. Nỗi đau của họ nhỏ bé tầm thường cạn cợt. Thế thì làm sao họ có thơ hay được? 



Nguyễn Thuỵ Kha: Tôi xin nói ngay rằng giới trẻ hiện nay cũng có những nỗi đau riêng của họ, mà tôi tin là chân thực. Ví dụ Ly Hoàng Ly trong bài thơ sau đây: 

Trên con đường ngập mùi nước hoa Chanel 
Vất mùi thật của mình vào đống rác 
Đi qua mùi của chính mình và bịt mũi” 



Như thế là nỗi đau chân thực đấy chứ. Tôi ủng hộ họ và tôi dìu họ đi. 



Nguyễn Đức Tùng: Ý của anh Nguyễn Thuỵ Kha về nỗi đau của giới trẻ là đúng và tôi hoàn toàn đồng ý. Chỉ tiếc là trong trường hợp bài thơ cụ thể này, nỗi đau của Ly Hoàng Ly, mặc dù có thể là có thật như anh Nguyễn Thuỵ Kha nói, nhưng hình như chưa đủ sức làm tôi xúc động. Nó chỉ mới dừng lại ở một ý tưởng. Có thể đó là một ý tưởng chân thật. Nhưng ý tưởng thơ không thì chưa đủ để thành thơ. Mặc khác, cái gì không làm tôi xúc động, thì nó không có thật đối với tôi. 



Trần Mạnh Hảo: Thơ của mỗi người bắt nguồn từ những trải nghiệm lịch sử khác nhau. Thế hệ chúng ta trải qua những cuộc chiến tranh đẫm máu như trong thơ của anh Nguyễn Thuỵ Kha. Sau cuộc chiến tranh, nhân dân hai miền thì mất trắng, nhưng trong những cái đau khác nhau. Thế hệ ngày nay có lẽ không kế thừa được những nỗi đau đó chăng? 



Nguyễn Trọng Tạo: Nhân dân miền Nam mất trắng trong sự đau đớn, nhân dân miền Bắc mất trắng trong sự đau buồn. 



Nguyễn Đức Tùng: Thế hệ trẻ hiện nay cũng không nhất thiết phải có những trải nghiệm lịch sử như các anh. Tôi nhớ lại một bài thơ ngắn, của một nhà thơ Mỹ hoặc Canada viết khi còn trẻ mà tôi quên mất tên, có những câu mang máng xin tạm dịch như sau: 

Trong đám tang của cha tôi 
Mẹ tôi mặc chiếc áo đầm màu đỏ 
Cả khu phố ai cũng bảo mẹ tôi là người đàn bà sexy 

Chỉ tôi biết 
Đó là chiếc áo duy nhất của bà” 



Nguyễn Thuỵ Kha: (Im lặng một lúc)… Hay lắm. Thơ như những dòng sông đến từ muôn phía, chảy muôn hướng khác nhau, nhưng đều đổ về biển cả, là thứ chung nhất của con người. 



Nguyễn Đức Tùng: Thơ của thế giới hiện nay, thơ hậu hiện đại, theo tôi là như thế. Đó là một thứ thơ giản dị, trực tiếp, tác động đến người đọc qua một trường thẩm mĩ khác. Trường thẩm mỹ hậu hiện đại. Hình như đó chưa phải là thứ thơ được hiểu, và được dịch ra tiếng Việt hiện nay, khắp nơi. 



Trần Mạnh Hảo: Bài thơ này hay mà rất đơn giản. Mới mà không có gì là khó hiểu cả. 



Nguyễn Thuỵ Kha: Giản dị, chứ không đơn giản. 



Nguyễn Đức Tùng: Xin anh Nguyễn Thuỵ Kha và các anh khác nói những lời cuối cùng trước khi chúng ta kết thúc cuộc trò chuyện hôm nay. 



Một thân hữu văn nghệ: Trong khi chờ đợi, tôi xin đọc câu thơ của Nguyễn Du, xin phép cụ có sửa lại tí chút để hợp với tâm trạng của chúng ta bây giờ. 

Mừng vui còn có hôm nay.” 



Trần Mạnh Hảo: Ngồi ở đây có rất nhiều người đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, như anh Du Tử Lê, anh DVT, NĐM, HS… phía miền Nam, và như anh Nguyễn Thuỵ Kha, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo và bản thân tôi, từ miền Bắc. Tôi nói thật với các anh, cuộc chiến tranh vừa qua thật là đau đớn và gian khổ. Chính tay tôi đã chôn biết bao nhiêu đồng đội của mình. Để lại mẹ già, vợ dại, con thơ. Chúng ta chịu tổn thất như thế, và một phía trở thành kẻ chiến bại, một phía trở thành kẻ chiến thắng, nhưng cả hai đều đau khổ như nhau. Những người mang tiếng là chiến thắng mà có lương tâm thì nào có sung sướng gì. Và còn biết bao nhiêu điều khác nữa, ví dụ như sự nhìn nhận lẫn nhau giữa văn học miền Nam và văn học miền Bắc mà anh Nguyễn Đức Tùng đã đặt ra hết sức đúng đắn. Nhưng muốn thế thì chúng ta phải được tự do bày tỏ ý kiến của mình. Thế mà chúng ta vẫn không có tự do. Tôi thách chính quyền, thách các nhà trí thức, các nhà thơ nhà văn, tranh luận với tôi là chúng ta đang có tự do hay không. Tôi muốn được tranh luận công khai với chính quyền. 



Tôi nghĩ rằng chính quyền có nghe được tiếng nói chân thực của người nghệ sĩ thì họ mới biết cách mà làm cho xã hội này tốt lên được. 



Tôi nghĩ rằng cái xương sống của thơ, cái cốt tủy của thơ là nằm ở chỗ nói lên những sự thật như thế. Những điều tôi nói nghe ra có vẻ không phải là thơ, nhưng thơ là gì, chính là cuộc sống. Anh là nhà thơ, mà anh lại không quan tâm đến cuộc sống, đến lịch sử, đến số phận của dân tộc, thì anh là cái gì? 



Tôi bận đi đòi tự do thì có thể tôi sẽ không làm thơ hay thật, nhưng tôi đòi các điều kiện cho các anh được tự do sáng tác và xuất bản. Như thế là tôi đã gián tiếp làm cho cả nền thơ Việt Nam được hay lên. Tôi chịu thiệt một mình cũng không sao. Nhưng thơ của một nhà thơ đi đòi tự do chưa chắc đã dở đâu. Thơ là điều tâm huyết nhất của chúng ta, thế thì nó phải nói được cái tâm huyết ấy. 



Tôi cũng như anh Du Tử Lê đã tham gia vào cuộc chiến tranh này. Chúng ta đều ân hận về cuộc chiến tranh đó, nó đã làm cho dân tộc chúng ta chia rẽ tang thương. Theo ý của tôi cuộc chiến tranh Nam Bắc vừa qua thật là vô ích. Văn nghệ sĩ là đầu tàu của dân tộc, trói văn nghệ sĩ là trói cái đầu tàu của dân tộc, thì làm sao chúng ta phát triển được. Ông Nguyễn Văn Linh cũng nói tương tự. Rồi đến ông Võ Nguyên Giáp cũng tuyên bố trên báo chí rằng Đảng đã trở thành cái bình phong của tham nhũng. Thế là tôi đã có đến hai, ba đồng minh, nghĩa là đồng minh trong những phát biểu của họ. 



Bây giờ tôi đọc thêm một bài nữa về Lý Bạch: 

Thơ hay có thể bị vua bắt 
(Tưởng nhớ thi thánh Lý Bạch) 

“Bạch giả thi vô địch 
Phiêu nhiên tứ bất quần” 
(Trích trong bài “Xuân nhật hoài Lý Bạch” của Đỗ Phủ) 

Bóng đuổi ta ù té chạy 
Khi thấy mặt mình dưới suối 
Ôi trăng sáng đến mềm môi 
Sáng đến chẳng còn gì để ta chơi với kiến 

May còn bông lau trắng núi Nga My 
Bướm Trang Tử làm đời ta ấm ớ 
Trời cứ lầm ta với cái ly 

Chỉ sắc đẹp Dương Quý Phi mới giúp ta biết được 
Khi tắt rồi ngọn lửa về đâu? 
Nhưng sắc đẹp lại câm hơn bóng nước 
Ta đành ôm mây trắng trên đầu 
Hỏi Trần Tử Ngang lối rẽ về thời trước 
Trời xanh còn che nổi Hoàng Hạc lâu? 

Ôi tuyết trái mùa rắc mạt cưa 
Ta không mướp đắng hoá ra thừa 
Rượu kia đâu dễ làm say núi 
Đá cứ vô tình khinh nắng mưa 

Thời thế làm đầu ta mốc thếch 
Bá Di, Thúc Tề có thể thoát được thóc nhà Chu 
Nhưng không thoát nổi vệt nhọ giữa trời của Cuội 
Hằng Nga ơi! Trăng còn phải ở tù 

Ta trả “Thanh Bình điệu” cho Đường Minh Hoàng 
Gió cũng bị đày đi Dạ Lang 
Cổ ta vừa với gông vua lắm 
Đố vua gông nổi mùa thu vàng? 

Vũ trụ là hũ rượu suông không đáy 
Nên giời cũng cũng cùm được thằng say 
Gió kia không sống cũng không chết 
Thổi lên cho lá được ăn mày 

Bớ sông Hoàng Hà đổ trời xuống đất 
Sao bóng ta vẫn núp rình ta 
Mèo rình chuột ta rình trăng mọc 
“Nguyệt hạ độc chước” ơi! Một cộng không bằng ba 

Thơ viết xong trăng chừng tái mặt 
Uống say đến mức sắp thành ta 
Thơ hay có thể bị vua bắt 
Trăng nhé nghìn đêm bạc tiếng gà 

Bớ thuyền say khướt trăng làm lái 
Rượu ghì trăng xuống uống nhau chơi 
Hồn ta làm cá cho trăng lưới 
Nghìn năm ta chết đuối giữa trời 
(Sài Gòn 1977-1979) 



Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn tất cả các anh chị đã nhận lời tham dự buổi gặp mặt, đặc biệt những người đã cất công đi từ rất xa, nhiều dặm đường. Tôi có một kỉ niệm lúc còn nhỏ, vào lúc chiến cuộc miền Nam lan rộng, giao thông cách trở, tôi đã thấy cha tôi đi bộ một ngày một đêm để đến thăm một người bạn cũ. Ông lại mất thêm chừng đó thời gian để quay về nhà. Hôm qua chúng ta đã mừng vui gặp nhau suốt ngày, đã trao đổi biết bao suy nghĩ về văn chương, thời cuộc. Buổi thảo luận về thơ hôm nay sinh ra từ cảm hứng của ngày hôm qua. 



Đây cũng là lần đầu tiên tôi được gặp các anh, ngay cả anh Du Tử Lê. Tôi đọc anh Du Tử Lê nhiều, và đã viết một cuốn sách về anh hẳn hoi, đã trao đổi thư từ suốt một năm trên email, nhưng chưa bao giờ chúng tôi gọi phone cho nhau. Như một thứ quy ước tinh thần. Tôi cũng được đọc thơ Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, và gần đây Nguyễn Thuỵ Kha. Rất yêu mến thơ các anh. Nhưng đây là lần đầu tiên thực sự gặp nhau ngoài đời. Tôi nhớ lại một câu thơ, mà tôi đọc được hồi mười hai mười ba tuổi. Lúc đọc nó thì tôi còn nhỏ quá nên không nhớ là của nhà thơ nào, đành xin lỗi tác giả. 

Người đi chưa đủ về quanh chiếu ngồi” 



Tôi hy vọng rằng một ngày kia tất cả những người ra đi sẽ về lại bên nhau đầy đủ, ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, mang theo cả những người không bao giờ còn có thể về lại được nữa. 



Chia sẻ và thấu hiểu, kính trọng và tha thứ. Trên chiếc chiếu của tình tự dân tộc và của thơ ca Việt Nam. 



Một lần nữa, xin cám ơn các anh. 



© 2007 talawas

 


Bài đã đăng của Nguyễn Trọng Tạo

Không có phản hồi/No comments

Comments feed for this article