MỪNG VUI CÒN CÓ HÔM NAY

 (Du Tử Lê, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Đức Tùngvà các bạn hữu văn nghệ)

Từ sáng sớm đến chiều ngày 3 tháng 4 năm 2007 tại Sài Gòn nắng gió, trên lầu một khách sạn yên tĩnh, xa tiếng động ồn ào của đường phố, đã diễn ra cuộc trò chuyện về thơ của những người về từ những nơi chốn khác nhau. Và do những nhân duyên kỳ lạ. Du Tử Lê từ Hoa Kỳ, Thanh Thảo từ Quảng Ngãi, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha từ Hà Nội, Nguyễn Đức Tùng từ Canada. Trần Mạnh Hảo là người duy nhất sống tại Sài Gòn.

Họ cũng khác nhau về phong cách. Du Tử Lê vừa hồi phục sau cuộc phẫu thuật cắt ung thư ở Cali, còn mệt sau chuyến đi xa, mặc một chiếc áo len mỏng, tỏ ra rất vui. Anh dịu dàng, ấm áp. Thanh Thảo ngồi suốt buổi trên ghế sofa thấp. Anh di chuyển khó khăn do một vết thương cũ, khuôn mặt trẻ thơ, trầm tĩnh. Nguyễn Trọng Tạo kín đáo nhưng tình cảm. Nguyễn Thuỵ Kha ung dung, thanh thoát. Anh và Du Tử Lê, Nguyễn Trọng Tạo thỉnh thoảng rủ nhau ra ngoài hút thuốc lá. Trần Mạnh Hảo đậm đà, say mê. Anh đọc thơ nhiều nhất trong cuộc gặp, nhưng chính Nguyễn Thuỵ Kha là người cầm đàn guitar lên và hát những bài ca lãng tử của anh. Cuộc trò chuyện diễn ra thẳng thắn nhưng thân mật. Có ghi âm trực tiếp. Một số thân hữu văn nghệ cùng đến dự, ngồi xen kẽ, và giúp chúng tôi nhiều việc. Chúng tôi trân trọng cám ơn tất cả các bạn.

Nguyễn Đức Tùng

Nguyễn Đức Tùng: Xin bắt đầu với anh Nguyễn Thuỵ Kha, một người lính xông pha trận mạc, một nhà thơ kén độc giả, nhưng đã từng làm những câu thơ hay vào bậc nhất của thơ ca Việt Nam .

“Ngoài từng trải mọi thứ đều dang dở 
Chỉ mong một sớm mai tỉnh ngủ 
Bỗng quên sạch sành sanh cả quá khứ muộn sầu”

Quá khứ mà anh muốn nói đến là quá khứ nào? Tại sao nó lại muộn sầu và anh muốn quên đi?

Nguyễn Thuỵ Kha: Quá khứ của tôi nằm trong quá khứ chung của dân tộc. Nước ta đã trải qua nhiều cuộc binh đao, nhưng cuộc binh đao vừa qua trong thế kỷ XX là không gì sánh được. Không biết vì do trời đất hay những nguyên nhân nào đó mà tất cả những hỉ nộ ái ố của con người trên thế giới đều được thể hiện trên mảnh đất Việt Nam trong một khoảng thời gian đầy biến động. Đó là sự thể hiện đa chiều chứ không phải một chiều. Như một người lính đã đi qua cuộc chiến tranh 1954-1975, tôi thật không hiểu vì lý do gì, nguyên nhân nào mà người Việt chúng ta cứ giằng xé nhau như vậy. Và tiếp tục giằng xé nhau như vậy.

Trên mặt trận có lần tôi đã nhặt được một tập Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn, chắc là của một người lính Việt Nam Cộng hoà. Ở trang đầu của tập ca khúc đó có ghi hàng chữ với những ý mà tôi không thể nào quên:

“Mẹ Việt Nam ơi khi nào ngừng máu chảy, để chúng con ngồi lại bên nhau.”

Tôi đã khóc khi đọc dòng chữ đó. Quá khứ muộn sầu mà tôi nói đến là như thế. Nhìn lại chung quanh chúng ta, nhiều nước họ không phải trải qua chiến tranh mà vẫn phát triển được và giữ được độc lập. Tại sao người Việt phải đánh nhau thì lại là một vấn đề cần tìm hiểu sâu xa vào từng thời kỳ. Mỗi gia đình đều có sự chia cắt người bên này kẻ bên kia. Ngay trong thời thơ ấu, chơi với bạn bè, người Việt gốc Hoa, tôi đã biết cảm giác mất bạn. Mới hôm trước là bạn của nhau, hôm sau đã không thể nhìn nhau được nữa. Tại sao những thằng bạn của tôi đã bị giằng khỏi tay tôi.

Cuộc chiến tranh vừa qua không chịu đi ra khỏi tôi. Nó cứ tiếp tục dằn vặt, ngay cả khi chúng ta sống hoà bình đã lâu.

(Từ trái sang phải: Du Tử Lê, Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo)

Nguyễn Đức Tùng: Nhân anh Nguyễn Thuỵ Kha nhắc đến vấn đề người Việt gốc Hoa, tôi bỗng nhớ rằng cách đây vài tháng, trước khi về Việt Nam , tôi gặp một người như thế ở Canada . Anh đi bị đuổi khỏi Việt Nam vào năm 1979 hay 1980, và lang thang trôi dạt về Trung Quốc, trở lại nơi chính quê cha đất tổ của mình. Anh nói với tôi rằng anh không thể nào sống ở đó được vì anh nói tiếng Hoa không giỏi, không ai coi anh là người Hoa cả, và anh cũng tự thấy mình là người Việt. Sau ba năm, anh không chịu nổi và vượt biên một lần nữa đến Hồng Kông, sau đó được Canada nhận vào như một người tị nạn. Anh hỏi tôi rằng tại sao Việt Nam lại nhẫn tâm xua đuổi anh như thế. Hôm đó tôi không trả lời được. Anh bảo: “Đến bây giờ tôi vẫn tự cho mình là người Việt, tôi thương Việt Nam lắm, nhưng tôi không về đó được nữa”.

Những câu chuyện như thế, mặc dù không phải là những kinh nghiệm trực tiếp trong đời sống của mình, vẫn làm tôi xúc động. Tôi nghĩ lịch sử có biết bao nhiêu điều uẩn khúc cần phải được soi thấu tận đáy, cần đi tìm cội rễ của chúng. Chỉ có hiểu được nguyên nhân mới có thể hoá giải được nỗi muộn sầu của lịch sử.

“Thành cổ nát tan cùng hàng phượng 
Dọc đường Nguyễn Hoàng mà em vẫn hát Diễm Xưa 
Hương ơi, áo dài trắng cây ghi ta bé bỏng” 
(theo Hoàng Ngọc Hiến)

Cám ơn anh Nguyễn Thuỵ Kha đã nhiều lần nhắc đến trường Nguyễn Hoàng của tôi. Chưa ai nhắc đến nó bao giờ. Dải đất thắt lại ở miền Trung sinh ra bao nhiêu nhà văn nhà thơ tài hoa, mà không mấy ai viết được một câu chạnh lòng như anh đã viết cho mảnh đất này. Trong bút ký có Phan Nhật Nam , Mùa hè đỏ lửa. Nhưng anh ấy là nhà văn. Thơ thì phải chờ đến Nguyễn Thuỵ Kha, một người đến từ Hà Nội.

Từ năm 1972, tôi ra khỏi tuổi thơ, đi một mạch, trở về có một lần, và quyết định sẽ không bao giờ về nữa. Nhà triết học và nhà thơ Pháp Gaston Bachelard trong cuốn Thi pháp của không gian (bản tiếng Anh) đã viết: “Căn nhà chung của chúng ta nuôi dưỡng những giấc mơ, bảo vệ người mơ và cho phép anh ta mơ mộng trong an bình”. Thưa anh, căn nhà đó với tôi và nhiều người khác đã không còn. Tôi tự hỏi: văn chương có thể làm được gì để xây dựng lại căn nhà chung của chúng ta?

Nguyễn Thuỵ Kha: Về mặt vật thể, ai cũng có một căn nhà. Căn nhà tuổi thơ của tôi ở Hà Nội cũng bị cháy trong đợt ném bom của máy bay Mỹ. Nó không bị trúng bom, nhưng một cánh máy bay đã rơi xuống làng Ngọc Hạ làm cháy căn nhà. Tôi đã viết trong một bài thơ:

“Tuổi thơ cháy đen cuốn nhật ký cùn…”

Có lẽ căn nhà của tôi cũng giống như căn nhà của anh Nguyễn Đức Tùng và của những người khác. Đó là những mối tình đầu bị tan vỡ.

Về mặt tinh thần, căn nhà chung của chúng ta chính là quê hương Việt Nam . Khi tôi vào lính, cũng như anh Thanh Thảo, anh Du Tử Lê, anh Trần Mạnh Hảo, chúng tôi đều biết rằng vào lúc đó cả hai bên, phía miền Nam và phía miền Bắc, đều đã dốc hết những con người cuối cùng. Những con người cuối cùng trong đó có trí thức nữa, đều buộc phải ném hết vào chiến tranh. Có thể nói cả hai bên đều kiệt sức. Có lẽ trên thế giới không có một nơi nào như thế cả. Ngay những người đã tốt nghiệp đại học như tôi cũng mang ba lô lên đường. Như thế là vàng ròng cũng đổ ra. Trí thức là vàng ròng đấy nhé, các anh ạ.

Như thế tôi đã vào đến Quảng Trị. Đó là mảnh đất miền Nam đầu tiên mà tôi đến. Tôi thấy lạ lắm.

Tháng 4 năm 1972, khi quân đội miền Nam đã rút khỏi thị xã Quảng Trị rồi thì chúng tôi mới vào, chẳng đánh gì cả, và những ngày đầu có một thời gian ngắn không có tiếng súng và không khí khá là yên tĩnh. Lần đầu tiên tôi được uống một chai la de cùng với nước đá ở thị xã Quảng Trị, ngồi trong một chiếc quán bên đường nghe cô gái ôm đàn ghi ta và hát khúc “Diễm xưa”. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nghe bài hát này. Đất nước của mình thì dĩ nhiên là một mà thôi, nhưng vào lúc đó đối với bọn tôi là những người đi từ miền Bắc, thì trong trí tưởng tượng, miền Nam có lẽ cũng giống như miền Bắc mà thôi. Nhưng thực tế tôi thấy nó khác, khác một cách rất khó diễn tả. Khi những người lính gặp những người thanh niên địa phương, mà đa số là các cô gái, vì đàn ông con trai thì có lẽ đã ra đi hết cả rồi, chúng tôi tiếp xúc với nhau, hát cho nhau nghe những bài hát hay nhất của mình. Các em gái thì hát những bài của Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Trịnh Công Sơn, còn tôi thì hát những bài tình ca miền Bắc và hát về Kachusa, một bài hát Nga được lấy làm tên cho một loại tên lửa. Vì lúc đó tên lửa đã đưa vào chiến trường.

Trường Nguyễn Hoàng nằm bên kia đường chỗ đóng quân của tôi, những dãy nhà dài hãy còn nguyên vẹn, rất đẹp, sau những hàng phượng rủ bóng mát đang trổ hoa đỏ rực rỡ. Tôi thường tò mò đi xem đây đó. Cần nói thêm rằng lúc tôi ra đi vào chiến trường, chúng tôi đã mất đi cái hồn nhiên của những người lính trẻ mới học xong lớp chín, lớp mười ở miền Bắc các năm trước đó. Lúc đó tôi đã tốt nghiệp đại học, và cuộc chiến tranh thì đã đi vào giai đoạn cay đắng tàn khốc, nên chúng tôi ra đi mà trong lòng đầy những câu hỏi.

Tôi nhớ cảnh lên tàu ở ga Hàng Cỏ, chúng tôi thì vào miền Nam, những người bạn khác thì cũng lên tàu ngược lên phía Trung Quốc để đi học ở nước ngoài.

“Mùa hạ này bạn ở đâu 
Sông Volga hay Hắc Hải 
Còn tôi khoắc khoải Trường Sơn”

Lúc đó ở Hà Nội, giữa những người trí thức trẻ như chúng tôi đã có cái không khí thắc mắc băn khoăn về cuộc chiến tranh. Chúng tôi không thanh thản như những thế hệ trước, vì có những điều mình không thể hiểu được. Là người trí thức ai cũng muốn vươn đến sự hoàn thiện, và vào lúc đó tôi tin rằng sự hoàn thiện nhân cách cao nhất là ở chỗ sống chết, tức là chiến trường.

Nguyễn Đức Tùng: Lúc anh mới vào miền Nam , anh nhìn thấy mảnh đất này khác hay giống với điều anh có trong đầu khi đang ở Hà Nội? Nếu khác thì khác ở điều gì?

Nguyễn Thuỵ Kha: Trước đó tôi hoàn toàn không thể hình dung được miền Nam là thế nào, mặc dù có nghe nói Sài Gòn là hòn ngọc Viễn đông. Nhưng ngọc hay kim cương thì tôi cũng không biết là thứ gì, có bao giờ thấy đâu. Tôi chỉ nghĩ là miền Nam thì cũng như miền Bắc, gồm những làng mạc quanh năm cày cấy của một xã hội nông nghiệp. Khi tôi vào đến vĩ tuyến mười bảy, gặp những người nông dân mời bát nước chè xanh, thì tôi cũng chưa thấy có gì lạ. Nhưng khi vào đến Đông Hà thì khác. Đông Hà là thị trấn đầu tiên của miền Nam ở gần cầu Hiền Lương, phía bắc của thị xã Quảng Trị. Trên đường phố Đông Hà tôi đã gặp những người phụ nữ gánh dưa đi bán, và thấy họ mặc áo dài. Tôi lấy làm ngạc nhiên lắm, trời nắng gánh dưa đi chợ mà mặc áo dài. Có một điều gì đấy đánh động trong tôi.

“Kẽo cà kẽo kịt gánh dưa 
Áo dài mẹ mặc nắng lùa gió bay 
Bao năm Mỹ hoá đất này 
Vẫn còn đây chiếc áo dài mẹ ta”

Dĩ nhiên đấy chỉ là cách nghĩ vào lúc đó của tôi, tức là theo tinh thần “cách mạng” rồi. Lúc đấy ở miền Bắc có một lối tuyên truyền là miền Nam đã hoàn toàn bị Mỹ hoá. Nhưng câu thơ cũng nói lên sự ngạc nhiên của tôi. Cực kỳ lạ luôn. Tôi ngồi bên đường uống một ly bia mà tôi cho là ngon nhất đời. Nước trắng tinh, bọt cực kì mịn. Sau này tôi không bao giờ gặp một loại bia như thế nữa. May mắn thay tôi có một người bạn hoạ sĩ đi cùng, anh đã vẽ được cái cảnh của thị xã Quảng Trị vào lúc đó, đang hoà bình. Năm ngoái tôi có tham dự cuộc triển lãm tranh của anh ấy. Anh hoạ sĩ về sau bị mù khi dự trận đánh ở Xuân Lộc.

Trần Mạnh Hảo: Hình như tôi có gặp anh hoạ sĩ mù. Sau này khi chữa lành mắt hết mù, thì lại không vẽ được nữa.

Thanh Thảo: Có người cho rằng khi các nhà thơ có tự do rồi thì họ lại không làm thơ hay được nữa.

Nguyễn Thuỵ Kha: Đúng là anh hoạ sĩ ấy. Sau đó thì anh ấy không vẽ nữa. Nhưng thị xã Quảng Trị mà anh ấy vẽ là trước lúc bị mù. Năm 1976, và từ đó về sau lúc nào tôi cũng nghĩ đến sự giao hoà của dân tộc chúng ta.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi rất thích chữ giao hoà của anh Nguyễn Thuỵ Kha. Tôi sẽ xin trở lại với nó.

Bây giờ xin đặt câu hỏi với anh Du Tử Lê. Hôm qua khi ngồi ở khách sạn chỗ anh Nguyễn Trọng Tạo, tôi thấy anh rất vui. Chúng ta gồm có anh Thanh Thảo bay từ Quảng Ngãi vào trước đó hai ngày, anh Nguyễn Thuỵ Kha từ Hà Nội, vòng qua miền tây đi ngược lên Sài Gòn, anh Nguyễn Trọng Tạo vừa đi Vũng Tàu lên, sau đó anh Trần Mạnh Hảo cũng nhập cuộc. Chúng ta đã uống với nhau những ly bia Sài Gòn đầu tiên trong cái nóng thiêu đốt của mùa hè và chia nhau những ly rượu từ một chai rượu mà anh Nguyễn Trọng Tạo hình như lúc nào cũng kè kè bên mình. Tôi thấy anh cười suốt cả buổi sáng. Hôm nay anh cũng ngồi đây bên cạnh anh Nguyễn Thuỵ Kha. Khuôn mặt của hai anh rất sáng dưới ánh mặt trời chiếu qua cửa kính. Tôi thấy rất đẹp. Tôi nghĩ về hai người lính đến từ hai phía khác nhau của cuộc chiến tranh chết chóc. Anh có cảm tưởng gì trong chuyến đi có tính cách hội ngộ này?

Du Tử Lê: Tôi về Việt Nam đã nhiều lần, nhưng chưa bao giờ có một dịp hội ngộ đông đảo và kỳ thú như thế này, do lời mời của anh Nguyễn Đức Tùng. Tôi được gặp lại anh Thanh Thảo, tôi được gặp lại anh Trần Mạnh Hảo, tôi được gặp lại anh Nguyễn Trọng Tạo, và lần đầu tiên tôi được gặp anh Nguyễn Thuỵ Kha, một người bạn mới mà suốt cả ngày hôm qua đến nay tôi đều có duyên ngồi gần. Như hôm qua tôi có nói riêng với anh Nguyễn Thuỵ Kha, tôi tin rằng chỉ có những người làm văn nghệ như chúng ta mới có thể làm điều mà chúng ta gọi là sự xoa dịu phần nào vết thương chung. Văn học nghệ thuật thời nào, xã hội nào cũng là mẫu số chung của dân tộc. Bởi vì mọi thứ cuối cùng rồi sẽ qua đi, chỉ văn học nghệ thuật còn lại. Ngay cả các tôn giáo cũng không thể làm điều đó được. Phải chính là chúng ta, bởi vì những người làm văn học nghệ thuật thời nào, xã hội nào cũng đều giống nhau. Bản thân tôi cũng như các anh ở đây không hề thấy có một sự ngăn cách nào. Tôi ngồi nghe các anh đọc thơ, tôi ngồi ngắm khuôn mặt an nhiên của anh Thanh Thảo, tôi nghe giọng đọc thơ bi tráng của anh Trần Mạnh Hảo, tôi không thấy có một khoảng cách nào cả.

Nhưng chúng ta là những thế hệ đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh. Chúng ta không gây ra cuộc chiến tranh nhưng đã trực tiếp dự phần, như thế là chúng ta có trách nhiệm với các bà mẹ, các bà vợ, các em nhỏ mất con mất chồng mất cha, và biết bao nhiêu tổn thương khác, làm đớn đau khánh kiệt tâm hồn của một dân tộc, ở cả hai miền. Và cả những thế hệ tiếp sau nữa, tôi tự hỏi họ sẽ học hỏi ở chúng ta điều gì. Những người làm văn học nghệ thuật phải tự thấy mình có trách nhiệm làm công việc giảm thiểu cho những nỗi oan khuất của tổ quốc chúng ta. Những người đến từ miền Nam , đến từ miền Bắc, đến từ hải ngoại, những thế hệ khác nhau.

(sau một lát im lặng)

Tôi vẫn suy nghĩ về câu hỏi của anh Nguyễn Đức Tùng đặt ra cho anh Nguyễn Thuỵ Kha hồi nãy. Về căn nhà mơ ước của chúng ta. Chúng ta tôn trọng đất thiêng đất thánh của tuổi thơ mỗi người, dù là Hà Nội, Quảng Trị, Sài Gòn v.v…, chúng ta cũng muốn biến quê hương Việt Nam thành đất thiêng đất thánh của mỗi người.

Nguyễn Đức Tùng: Cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua được nhiều người gọi tên khác nhau. Nhưng cho dù được gọi bằng cái tên nào thì Theo tôi, đó là cuộc nội chiến. Một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, mà di hại của nó để lại cho các thế hệ sau thật là lớn lao. Hôm qua tôi có nói chuyện với một người bạn trẻ, dưới ba mươi tuổi, đang là phóng viên cho một tờ báo. Tôi lấy làm ngạc nhiên là một người như anh ấy vẫn có những ưu tư phiền muộn, những ám ảnh từ quá khứ chia cách của dân tộc. Tôi cho rằng đó là điều rất đáng quý giữa lớp trẻ ngày nay, mười người thì có chín người không mảy may biết gì về lịch sử. Họ không học lịch sử. Mà không biết lịch sử thì làm văn chương thế nào được? Họ viết cái gì?

Nhiều người hiện nay muốn tìm cách làm cho thế hệ trẻ quên đi quá khứ đau thương của chúng ta. Điều đó cũng có ý tốt là giúp cho con người hướng đến hiện tại và tương lai. Nhưng tương lai phải bắt đầu từ quá khứ. Không giải thích được quá khứ, không hiểu được nó thì một dân tộc chẳng thể nào có tương lai khá được, và văn học nghệ thuật chỉ trở thành, cũng như trong thực tế phần nào đang trở thành, một thứ trò chơi nhảm nhí với các đổi mới hời hợt về kĩ thuật bên ngoài, không đánh động được vào chiều sâu của tâm thức cộng đồng và người đọc.

Nhưng chúng ta giải thích cuộc chiến tranh như thế nào?

Có lần tôi trò chuyện với một nhà thơ Việt Nam đang ở Canada , sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Tôi hỏi anh rằng vào khoảng thời gian từ 1960 đến 1970, tức là tuổi mới lớn của anh, anh nghĩ về nó như thế nào, cái xã hội và thiên nhiên xung quanh anh vào thời ấy, nhìn qua mắt một đứa trẻ, đó có phải là một thiên đường tuổi thơ của anh không? Câu trả lời là có. Anh hỏi ngược lại tôi cùng câu hỏi như thế. Tôi lớn lên ở một vùng quê miền Trung nghèo khó. Cha tôi, trước đó nhiều năm, là một cán bộ trung đoàn thời kháng chiến chống Pháp. Sau khi người thân bị bức hại và đấu tố, là một người khí tiết, ông lặng lẽ bỏ về làng làm ruộng và dạy học. Nghĩa là rất nghèo. Nhưng trong chừng mực mà khói lửa chiến tranh còn chưa cháy lan đến cái xóm nhỏ của tôi, trước 1972, thì tuổi thơ tôi, hàng xóm hiền hoà của tôi, ngôi trường tiểu học và trung học mà tôi may mắn được cắp sách đi đến mỗi ngày, bến đò mênh mông sương mù, và không gian xã hội- văn hoá mà tôi lớn lên trong đó, quả thật là một thiên đường tuổi thơ mà một người nhỏ tuổi ngày nay có thể mơ ước, một vùng đất mà thanh niên ngày nay không thể nào có được. Vì hậu quả chiến tranh, vì sự suy đồi đạo lý của xã hội, và vì sự khánh kiệt của thiên nhiên.

Tôi thường ngẫm nghĩ về chuyện này. Càng nghĩ tôi càng tin rằng bí ẩn sâu xa của bi kịch dân tộc, của cuộc nội chiến vừa qua, là ở đây.

Tôi biết có những kẻ nói dối trong văn chương là tuổi thơ của tôi ở miền Nam không có hạnh phúc. Điều đó không đúng đối với tôi. Và cũng có những kẻ nói dối trong văn chương là tuổi thơ của bạn tôi ở Hà Nội không có hạnh phúc. Điều đó cũng không đúng đối với bạn tôi.

Thanh Thảo: Tôi hiểu ý của anh Nguyễn Đức Tùng. Tôi là một người đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh, ở về phía mà người ta gọi là Việt cộng.

Sáng nay, rất sớm, trước khi đến đây, tôi ngồi với một người bạn, trước đây cùng ở chiến khu. Trước thời gian đó anh ấy làm trong toà soạn báo Tin Văn ở Sài Gòn. Tôi và anh ấy đều đồng ý với nhau rằng dù đến từ hai phía của cuộc chiến tranh nhưng chúng ta rất gần nhau. Nói về hoà hợp dân tộc, thật ra chúng ta đã hoà hợp từ xưa đến nay, trừ một giai đoạn có những ngăn cản về chính trị. Chúng ta phải loại trừ những rào cản về chính trị và do chiến tranh không đáng có.

Tôi rất đồng ý với anh Du Tử Lê là chỉ có những người làm văn nghệ mới có thể làm được giải oan cho dân tộc. Có một câu thơ của anh Du Tử Lê trong trường ca Mẹ về Biển Đông làm tôi rất xúc động, đó là:

“Không có một người mẹ nào muốn chết ngoài Tổ quốc.”

Thế thì tôi cũng nghĩ rằng có không biết bao nhiêu là thanh niên đã chết ngoài Tổ quốc.

Hôm qua tôi cũng ngồi với một người bạn từ Úc về. Anh ấy trước đây là phi công của quân đội Việt Nam Cộng hoà, lái trực thăng tải thương, hoạt động ở Quảng Ngãi. Đọc những bài viết của anh ấy về những kỉ niệm thời chiến tranh, tôi cũng rất xúc động, tôi tuy là người Quảng Ngãi nhưng xa quê hương từ khi còn nhỏ. Trước khi đi tập kết tôi có ra thị xã một lần, nhưng lúc đó thị xã Quảng Ngãi còn rất nhỏ bé. Tôi không hình dung được cuộc sống ở đó trước 1975 ra sao, nếu không nhờ những trang viết của anh. Lúc đầu mới gặp nhau chúng tôi hợp nhau ngay mặc dù có hai nền giáo dục và quá khứ khác nhau. Có lẽ chúng tôi từ miền Bắc vào và là những người có học. Các anh ấy từ thành phố tình nguyện lên rừng tham gia vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, nhưng cấp trên của chúng tôi cũng không hoàn toàn tin tưởng ở họ. Mà cấp trên cũng không tin tưởng ở những người như tôi, mặc dù tôi được đào tạo ở miền Bắc, học hành tử tế, đào tạo đàng hoàng ở đó từ nhỏ đến lớn. Có lẽ những người trí thức như tôi và các anh dễ tìm ra được những điểm chung hơn. Người dân thường cũng thế, họ chẳng có chuyện gì đâu. Tôi cho rằng nếu chúng ta bỏ qua những rào cản nào đó thì rất dễ. Mà những rào cản này đến từ cả hai phía, phía Việt cộng hay chính thống, và cả phía hải ngoại. Cứ đến với nhau như người Việt Nam thì sẽ vui thôi.

Nguyễn Đức Tùng: Thưa các anh, những người làm văn học đi từ miền Bắc và những người làm văn học đi từ miền Nam nhìn nhau như thế nào? Nhìn nhận nhau như thế nào?

Thanh Thảo: Trên một số diễn đàn chung, ví dụ như BBC, hay các diễn đàn khác, ta hay gặp một số ý kiến phản hồi một bài viết chính,nhiều khi xung đột nhau rất căng thẳng. Tôi thấy như thế thật là đáng tiếc, vì vẫn có sự phân biệt ranh giới Bắc Nam . Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Du Tử Lê là những người làm văn học nghệ thuật như chúng ta chính là những người ngồi xuống với nhau, khởi đầu cho sự hoà giải dân tộc. Không có lý gì lại không làm được. Đó là sự hoà giải hoà hợp thật sự, từ trong trái tim, chứ không phải là lời kêu gọi suông, vớ vẩn nào đó.

Tôi nhớ câu thơ của anh Du Tử Lê: “Không một người mẹ nào muốn chết ngoài Tổ quốc”.

Câu thơ của anh đau đớn lắm. Tôi còn nghĩ đến những người thanh niên cũng chết ngoài Tổ quốc như trong cuộc chiến tranh ở Campuchia chẳng hạn. Còn thế hệ chúng tôi thì khác, lúc vào chiến trường tôi chỉ có một điều tâm niệm là đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, nên tâm hồn tôi rất trong sáng.

Dĩ nhiên là nếu không có cuộc chiến tranh đó thì tốt quá. Nếu như những nhà lãnh đạo cả hai miền Nam Bắc vào năm 1954-1956 biết ngồi lại với nhau, bàn chuyện tổng tuyển cử, hoà hợp dân tộc, theo Hiệp định Genève, thì chẳng có anh Mỹ anh Tàu nào nhảy vào được cả. Thế mà cuộc xung đột đã đến hồi khốc liệt, 1964, khiến cho Mỹ có cơ hội nhảy vào và biến Việt Nam thành một cuộc chiến tranh thế giới thu nhỏ. Thực chất đó là cuộc chiến tranh thế giới, lấy người Việt làm quân, quân xanh và quân đỏ. Lấy Việt Nam làm bãi chiến trường. Cái này thì đúng quá.

Du Tử Lê: Tôi muốn trở lại với ý tưởng của anh Nguyễn Đức Tùng, liên quan đến một người bạn của anh quê ở Hà Nội, và người bạn trẻ của anh ở Sài Gòn. Thứ nhất là, tuổi thơ của mỗi người chúng ta ngày xưa quả thật là quá đẹp. Quả thật là chiến tranh và bao nhiêu thay đổi trên đất nước này đã tiêu hủy chúng đi. Thứ hai là, cái di hại của cuộc chiến tranh vừa qua đối với những người trẻ tuổi hôm nay thật là lớn lao, và không khí u uất vẫn còn đè nặng lên những tâm hồn thanh niên trí thức. Làm thế nào để thay đổi điều này là một câu hỏi đối với tất cả chúng ta.

Nguyễn Đức Tùng: Đồng ý với anh Thanh Thảo và anh Du Tử Lê là người Việt Nam bình thường ai cũng có thể hoà hợp với người khác. Nhưng tôi nghĩ rằng muốn yêu một người thành thật thì phải hiểu người đó. Nếu yêu mà không hiểu thì nó sẽ không bền.

Vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta nhìn nhau như thế nào, nhà văn miền Bắc nhìn nhà văn miền Nam như thế nào, đọc họ ra sao, và ngược lại nhà văn miền Nam nhìn nhà văn miền Bắc như thế nào, đọc họ ra sao?

Anh Thanh Thảo kêu gọi sự hoà hợp, yêu thương giữa con người với con người. Tình yêu chỉ đến thông qua sự thông hiểu. Đó là điều quan trọng. Sáng hôm qua anh Thanh Thảo có nói với tôi rằng do điều kiện làm việc trong chiến trường, anh được đọc rất nhiều tài liệu sách vở văn học nghệ thuật từ Sài Gòn chuyển vào rừng, gần như cập nhật mỗi ngày, nhờ thế mà anh hiểu sinh hoạt văn học miền Nam nhiều hơn những người cùng hoàn cảnh với anh. Những người khác thì không được như thế.

Trần Mạnh Hảo: Tôi rất quan tâm đến câu hỏi của anh. Để bắt đầu trả lời cho câu hỏi này, tôi xin đọc một bài thơ lục bát, vì đây là cuộc trò chuyện về thơ, đúng không ạ? Bài thơ này nói về thân phận của những người lính miền Bắc như bản thân tôi. Hiểu được thân phận của những người lính miền Bắc, thì những người xuất thân từ miền Nam sẽ có cách nhìn nhận chúng tôi khác đi. Và ngược lại cũng như thế.

Được chơi với kiến 

Bạn tôi bảy chục tuổi xuân 
Giờ ngồi xem kiến hành quân thay người 
May còn con kiến để chơi 
Có khi vạn sự ở đời con con 

Dễ chừng lấp biển dời non 
Lưng còng mới được lon ton tuổi già 
Góc vườn đàn kiến bò ra 
Kéo đi hàng dọc như là Trường Sơn 

Nhớ ơi đồng đội chập chờn 
Chiến tranh bỏ lại cô đơn hoà bình 
Ngồi chơi với kiến giật mình 
một ta mà cả đội hình ngày xưa 

Tiếng rừng gọi bạn không thưa 
Hoá thân thành kiến như vừa đâu đâu 
Tuổi già thơ thẩn lâu lâu 
Ngồi chơi với kiến bạc đầu không hay

Tôi viết bài thơ này là do ngẫm nghĩ từ đồng đội của tôi. Họ hy sinh. cho cái gì? Họ hy sinh cho một chiêu bài giải phóng đất nước, cho tự do của dân tộc. Nhưng ngày hôm nay dân tộc có tự do chưa? Chưa hề có tự do. Bởi vì muốn có tự do thì trước hết phải có tự do tư tưởng, tự do báo chí, phải có báo chí tư nhân. Không có báo chí tư nhân thì người dân làm sao có tự do phát biểu ý kiến?

Mà tôi chỉ mới nói từ một ý của ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ Chí Minh nói thế này: độc lập cũng không có nghĩa gì, nếu không có tự do. Chúng ta đã chết hàng triệu người, nói là hy sinh cho độc lập tự do, nhưng hôm nay không có tự do thì sự hy sinh đó có thật là có ích hay không?

Không có tự do báo chí thì không có tự do tư tưởng, không có tự do tư tưởng thì anh chỉ là người nô lệ.

Thanh Thảo: Tự do thì đúng là cần, nhưng cũng có những nhà thơ khi bị đàn áp thì làm thơ hay, khi có tự do rồi thì không làm thơ được nữa.

Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là quan hệ giữa con người và con người chứ không phải là cái vỏ bọc hay là những thứ chủ nghĩa mà người ấy đeo. Thời tôi còn ở trong chiến khu Nam bộ, tôi bị một tai nạn văn học rất khó quên. Tôi viết bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình”. Bài thơ này nếu như không được in ra thì chỉ là chuyện lưu hành nội bộ, tiếc thay là nó lại được in ra trên tờ báo Văn nghệ Giải phóng. Sau đó tờ này cũng bị đánh luôn. Do tình hình chiến sự khó khăn tạp chí này bị đình bản khá lâu, đến năm 1973, tương đối có hoà bình, thì nó lại được tái xuất hiện. Tiếc thay ngay trong số đầu tiên nó lại có bài thơ của tôi. Tờ báo này lúc đó do Anh Đức phụ trách. Bài thơ của tôi bị Trần Bạch Đằng đánh rất nặng. Ông ta lúc đó là phó ban trực của Ban Tuyên huấn Trung ương, quyền hành rất lớn. Lúc đó ở trong rừng mà bị dính vào một vụ án văn học như thế thì nói chung là rất khó sống. Điều này nói ra thì ít người thông cảm, nhất là các anh em ở miền Nam trước đây. Tình hình gay cấn đến mức tinh thần tôi rất xuống dốc và bấn loạn. Đến một lúc tôi đã quyết định tuyệt thực. Khi tôi bắt đầu tuyệt thực thì có một người đến khuyên giải tôi là anh bí thư chi bộ. Tức là người của Đảng đấy. Tuy anh ấy là bí thư chi bộ nhưng là người rất thật thà hiền lành và rất quý tôi.

Trần Mạnh Hảo: (cười) Tuy là bí thư chi bộ nhưng rất tốt.

Thanh Thảo: Anh bí thư ấy hiện nay vẫn còn sống ở Sài Gòn, và rất là khổ, chứ không sung sướng gì đâu. Anh ấy đến nói với tôi rằng: “Ông mà tuyệt thực thì chúng nó bỏ cho ông chết luôn, chứ ở đây không ai biết đâu. Không ai biết đến cái chết của ông đâu. Ông cần phải sống để nói cái điều ấy. Chết như thế thì không nên”.

Câu nói ấy đã đánh thức tôi.

Đó là câu nói của một bí thư chi bộ. Mà đó cũng là câu nói của một con người với một con người. Đó thật sự là câu nói của một người đồng chí. Đồng chí với nghĩa thực sự của nó, chứ không phải là thứ đồng chí bố láo đâu. Mặc dù tôi lúc đó không phải là đảng viên.

Tôi kể câu chuyện này vì muốn nói rằng mọi người Việt Nam đều có thể đến được với nhau. Dân tộc chúng ta hoàn toàn có thể hoà hợp được. Hoà hợp thực sự đấy, như những con người với nhau. Miễn là chúng ta bỏ hết các thứ vỏ bọc, nhãn hiệu, nhãn mác đi. Bỏ nhãn mác đi.

Trần Mạnh Hảo: Bỏ “mác” đi.

Thanh Thảo: (cười) Ừ thì bỏ “mác”. Ông thì cứ hay chêm vào. Thật ra chúng ta hoàn toàn có thể sống vui vẻ, nếu biết bỏ hết đi, chứ sao lại phải sống khốn khổ như thế này. Dân tộc chúng ta sống khốn khổ quá. Lâu nay chúng ta cứ sống theo kiểu tách biệt, người thì vin vào cái này, người thì vin vào cái khác, người thì trong nước, người thì hải ngoại. Gốc của mình là người Việt thì mình lại quên đi. Nếu ai cũng nhớ được như thế thì sẽ thấy ra cái cốt lõi của vấn đề.

Nguyễn Đức Tùng: Anh Du Tử Lê đang muốn nói một điều quan trọng liên quan đến sự khác nhau về quan điểm giữa anh Trần Mạnh Hảo và anh Thanh Thảo trong vấn đề thơ ca và tự do. Xin mời anh.

Du Tử Lê: Tôi hoàn toàn chia sẻ hai ý kiến, một của anh Trần Mạnh Hảo, và một của anh Thanh Thảo.

Nhận định của tôi là để trả lời câu hỏi: khi không có tự do chúng ta làm thơ hay hơn, hay khi có tự do chúng ta làm thơ hay hơn? Tôi nghĩ rằng muốn như thế thì phải dùng đến khái niệm thơ phản kháng. Trong những xã hội mất dân chủ, bị đàn áp, khi chúng ta bị o ép, bị trù dập, chúng ta có thể có nhiều thơ hay, nhưng đó là những bài thơ mang tính phản kháng. Nhưng thơ ca không phải chỉ có phần thơ phản kháng, mà còn có cái phần lớn hơn là phần nhân loại, phần thế giới. Nó phải có phần nhân loại, chỉ có thế thì thế giới mới hiểu được chúng ta và đánh giá chúng ta ngang với cái tầm mức mà chúng ta có thể vươn tới.

Vì vậy tôi vẫn hy vọng rằng trong một thời gian không xa, Việt Nam sẽ có tự do, ít nhất là tự do tối thiểu, để những người làm thơ không phải chỉ làm thơ phản kháng, mà họ còn có thể đi vào cái phần căn bản, là con người, như trong khái niệm mà anh Thanh Thảo đưa ra.

Nguyễn Đức Tùng: Có lẽ anh Du Tử Lê muốn nói đến khái niệm phản ứng, và thơ có tính phản ứng. Như vậy ý anh muốn nói là khi không có tự do thì chúng ta sẽ có thơ hay nhưng là thơ phản ứng, khi có tự do thì chúng ta cũng sẽ có thơ hay nhưng là thơ… như mọi người.

Du Tử Lê: Vì vậy tôi vẫn muốn có tự do, vì có tự do thì có thơ kiểu nhân loại. Hiện nay thơ của chúng ta trong hoàn cảnh bị đàn áp vẫn còn phần nhiều  là thơ phản ứng, nghĩa là có tính cục bộ. Khi thoát ra được các hoàn cảnh hiện nay, thơ Việt Nam sẽ mở ra những cánh cửa mới. Khi đó các anh, chúng ta, sẽ được biết biên giới của thơ nhân loại đang ở đâu, và các cuộc vận động văn chương hiện nay là thế nào và tại sao. Chứ còn như hiện nay chúng ta cứ bị bó rọ trong góc tối. Chỉ trừ một vài người ưu tú, ví dụ như các anh ở đây, tôi tin rằng hầu hết người Việt Nam , các nhà thơ Việt Nam khác, đều không có được cái nhìn tổng quát đối với thơ thế giới. Chúng ta bị bỏ lại đằng sau. Bỏ lại không thương tiếc. Và điều ấy rất oan uổng cho dân tộc Việt Nam . Có thể là tôi hơi cường điệu. Vì tôi là người Việt Nam , tôi vẫn tin rằng văn học Việt Nam có thể so sánh được với các nền văn học khác, kể cả văn học Pháp. Văn học Pháp là một nền văn học lớn, cái nôi của nhiều nền văn học khác. Thế mà tại sao chúng ta không được thế giới biết đến. Tại vì chúng ta cứ mãi loay hoay, như anh Nguyễn Thuỵ Kha nói, là giằng xé lẫn nhau. Khổ quá, đói quá thì còn suy nghĩ gì được nữa.

Khi tôi bị đàn áp, bị o ép, thì tôi vùng dậy, tôi làm thơ chống đối. Thơ như thế có thể hay và rất hay. Thế giới đọc nó cũng nhận ra và đánh giá cao. Nhưng thơ như thế thì vẫn cứ là thơ cục bộ, vẫn cứ thiếu tính nhân loại.

Nguyễn Đức Tùng: Điều anh Du Tử Lê nói rất đặc biệt. Có thể có người đồng ý và có thể không. Tôi xin kể một chuyện riêng tư. Mỗi lần đi du lịch xa, nghĩa là ngồi trên máy bay nhiều tiếng đồng hồ, như lần về Việt Nam này, gần một ngày, tôi đều mang theo một hoặc hai cuốn sách để đọc. Tôi buộc phải chọn rất kỹ, vì mang theo nhiều thì nặng, mà mang theo ít cuốn thì có thể gặp những cuốn sách không hay, sợ không có gì để đọc cho qua thì giờ buồn chán. Tôi chợt nhận ra rằng những lần như thế tôi đều mang theo một cuốn sách tiếng Anh, mặc dù như các anh biết, tôi đọc và viết tiếng Việt văn chương. Tôi nhận ra rằng nền văn học của chúng ta chưa rơi được vào sự tuyển chọn cá nhân của tôi bên cạnh các nền văn học khác. Tôi tự hỏi phải chăng vì văn chương, trong đó có thơ, của những nước như Mỹ, Canada, Mexico, Ba Lan… đã chạm đến được cái mà anh Du Tử Lê nói, đó là tầm nhân loại. Mà điều này thì hình như không phải ở đề tài. Ví dụ người ta cũng viết về chiến tranh, nhưng họ viết khác chúng ta.

Cuốn sách mà tôi cầm trên tay khi lên máy bay là một tuyển tập thơ của nhiều người trong đó có bài “Kết thúc và Khởi đầu” của nhà thơ nữ Ba Lan Wislava Szymborska. Đoạn mở đầu như thế này:

“Sau mỗi cuộc chiến tranh 
Phải có người đi dọn dẹp 
Các mảnh vỡ 
Chúng không tự mình đứng lên được”

Szymska nói lên một sự thực giản dị, ai cũng biết, ai cũng hiểu, nhưng trước bà không ai nói như thế. Không phải chỉ có vậy, bài thơ mới vào đã lập tức gây cảm giác nhân đạo, khiêm cung, hài hước, gây hiệu quả tức thì. Tôi mong các nhà thơ Việt Nam học tập ở bà nhiều điều.

Thanh Thảo: Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Nguyễn Đức Tùng.

Tôi muốn nói thêm vì sau đây tôi xin phép rời cuộc trao đổi để đến cái hẹn với mấy người bạn cũ thời ở chiến trường.

Về ý kiến của anh Du Tử Lê tôi thấy thế này. Đúng là có một dòng văn học phản kháng. Trong những hoàn cảnh bị đàn áp, nhà thơ có thể làm thơ phản kháng nhưng cũng có thể làm những loại thơ khác nhau, về các thứ tình cảm như khổ đau và yêu thương. Không nhất thiết chỉ là thơ phản kháng, chỉ là thơ thôi.

Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, có những giai đoạn mà thơ phản kháng là quan trọng nhất, nhưng có những giai đoạn khác mà dòng thơ chìm lắng nổi bật lên. Người thi sĩ có thể làm nhiều thứ thơ khác nhau, nhưng điều quan trọng là nó phải xuất phát từ thứ tự do tuyệt đối của tâm hồn. Tự do cho mọi người trong xã hội dĩ nhiên là cần, nhưng đối với người nghệ sĩ, tự do tâm hồn là cái tiên quyết. Đối với tự do này không một nhà nước nào có thể ngăn cấm và đàn áp.

Không một chế độ độc tài nào ngăn cản tự do tâm hồn của chúng ta, nhưng để thứ tự do tâm hồn đó đến được với người đọc và xã hội thì lại cần đến thứ tự do khác, đó là tự do cho toàn xã hội. Từ thứ tự do trước đến thứ tự do sau là cả một quá trình.

Nói như kiểu Mỹ chúng ta cần có một lộ trình. Bây giờ thì theo Mỹ nhanh quá (cười). Mình thì lúc theo Tàu, lúc theo Nga, lúc theo Mỹ. Cái gì cũng nhanh.

Quá trình nào cũng có cái cách riêng của nó. Đi từ cái tự do tâm hồn đến tự do xã hội, thì chúng ta phải phấn đấu. Phấn đấu cho một nền văn học tự do chứ không phải cho một nền văn học chửi bới (cười). Chửi bới thì không phải là văn học.

Sự đau đớn chính là văn học phản kháng. Nó cần phải sâu xa. Như thơ của Đặng Đình Hưng, của Văn Cao, chính nó là phản kháng. Còn kiểu “tao đập vào mặt mày” thì đó là viết báo rồi chứ không phải là thơ. Thơ cần phải xúc động.

Thơ cần cho một số ít người đọc. Đám đông thì không mấy khi hiểu thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi xin nhắc lại và diễn giải một ý của anh Thanh Thảo: thơ không phải dành cho đám đông, mà dành cho một số nhỏ người đọc. Thơ không đọc ở quảng trường mà dành cho sự sâu thẳm của tâm hồn và như thế chỉ có những người đọc tinh hoa mới hiểu được thơ mà thôi.

Từ trái sang phải: Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê

Nguyễn Trọng Tạo: Câu hỏi của anh Nguyễn Đức Tùng rất thú vị. Nhân các anh đang nói về Thơ và Tự do. Vậy tôi xin nói về ý này trước. Có một số nhà thơ đòi tự do. Họ đi đòi tự do nhưng lại không làm thơ (bởi thơ họ có khi chỉ là vè). Có những nhà thơ không đi đòi tự do, họ chỉ đóng cửa lại để làm thơ, nhưng thơ họ lại là thơ đòi Tự do. Trong thơ của họ có sự đấu tranh đòi tự do. Và có những nhà thơ bị tù, bị cấm, nhưng họ lại làm ra những bài thơ hoàn toàn Tự do. Như vậy đối với một số nhà thơ, bất chấp hoàn cảnh, họ vẫn có tự do của mình để làm thơ như họ muốn.

Trong khi đó đáng buồn thay có những nhà thơ đang hoàn toàn tự do, thậm chí nắm cả quyền lực trong tay, thì lại đi làm ra một thứ thơ nô lệ, thơ xu phụ.

Như thế thì quan hệ giữa tự do và thơ ca nằm ở đâu? Trong bất cứ một thể chế nào, câu hỏi đó vẫn mãi mãi đặt ra. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng không được quyền khước từ ý chí đi tới tự do, con đường đi tới tự do.

Hôm nay có tự do, ngày mai có thể đã trở thành nô lệ rồi. Hôm nay ta thấy cái đang có, thì ngày mai nó lại biến mất. Sự vật luôn luôn vận động. Tôi nghĩ khái niệm của nhà Phật về sắc sắc không không chính là dạy ta một cách khác để tiếp cận với Tự do. Trong thơ ca cũng thế, chúng ta đi tới tự do như thế nào? Đó là những câu hỏi không thể một lúc trả lời xong. Những ý kiến của các anh Trần Mạnh Hảo, Du Tử Lê, Thanh Thảo, là những ý kiến mà tôi rất tâm đắc, và lúc nào cũng trăn trở. Đặc biệt trong những giai đoạn lịch sử vừa qua, cuối thế kỷ XX, tự do luôn luôn là nỗi bức xúc của chúng ta.

Du Tử Lê: Tự do luôn luôn là nỗi bức xúc của chúng ta. Ý của anh Nguyễn Trọng Tạo tôi nghĩ rất hay.

Nguyễn Trọng Tạo: Thế thì anh có tự do làm thơ hay không? Tôi nghĩ rằng dưới một số thể chế nào đấy, nếu anh không tự dành cho mình tự do, thì anh chẳng bao giờ có tự do. Có những thể chế mà cánh cửa tự do đang khép, nhưng không ai có thể khép được cánh cửa ở trong anh. Điều ấy mới là quan trọng. Cánh cửa tự do của nhà thơ lúc nào cũng mở ngay cả trong những thể chế mà chúng tìm cách đóng nó lại, chỉ lúc ấy chúng ta mới có tự do.

Và nếu anh tài năng, thì anh sẽ tự mở cánh cửa Tự do ấy, và có thơ ca đích thực.

Còn nếu anh đòi tự do mà anh lại không có thơ hay, thì thơ của anh chỉ là vè, và nó không phục vụ cho mục đích của anh.

Gần đây cũng có những người dán cho mình nhãn hiệu là đi đòi tự do, nhưng họ lại đang tạo ra những xiềng xích mới. Tuy nhiên trong những hoàn cảnh bị đàn áp, dưới những thể chế hay những chính sách mất tự do, việc đấu tranh của những người đòi tự do dĩ nhiên bao giờ cũng là việc tốt, vấn đề là họ có đang làm văn học hay không.

Hãy lấy ví dụ về Nhân văn-Giai phẩm (NVGP). Sau vụ đàn áp NVGP, Hoàng Cầm có tập thơ Về Kinh Bắc. Sau 1975, tôi đọc được bản đánh máy của tập thơ, tôi bần thần mất mấy ngày. Tôi thấy nền thơ chống Mỹ của miền Bắc, hay nền thơ của miền Nam trước 1975, không có điều ấy.

“Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh 
Đi mãi tìm sim chẳng chín 
Ta con chào mào khát nước 
Về vườn xưa 
Hạt nhãn đã đâm mầm”

Sao lại có một thứ thơ xa xăm như thế. Những tài thơ của NVGP không hề có một chút tự do nào trong xã hội miền Bắc thời bấy giờ. Những nhà thơ NVGP tìm cách thoát ra bằng một loại thơ khác, lặng lẽ, sâu kín, một thứ thơ cảm giác. Mà thơ như thế thì khó bị đánh. Nếu như họ làm một thứ thơ trực tiếp, nói thẳng tâm trạng của họ ra, thì họ còn bị đánh tan tác hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Anh gọi đó là thơ cảm giác?

Nguyễn Trọng Tạo: Đúng, nó là thơ cảm giác. Nhưng trên cơ sở của một nền văn hoá thơ khá cao. Đối với Hoàng Cầm là một tiềm thức văn hoá Kinh Bắc.

Có lần tôi nói với anh Hoàng Cầm rằng tập thơ Về Kinh Bắc của anh là tập thơ xương sống, hay hơn những tập thơ khác của anh, hay hơn Bên kia Sông Đuống.

Về Kinh Bắc đã đưa cả Hoàng Hưng lẫn Hoàng Cầm vào tù. Tức là thể chế này đã đưa một người viết ra tập thơ là Hoàng Cầm, và một người chỉ cầm tập thơ ấy trên tay là Hoàng Hưng, vào tù.

Trần Mạnh Hảo: Nhưng bây giờ thì cái thể chế ấy lại tặng Giải thưởng Nhà nước (2007) cho người làm ra tập thơ ấy.

Nguyễn Trọng Tạo: Đúng là tặng giải thưởng. Tặng thưởng cho người đã vào tù, chứ không phải sửa sai. Họ không sửa sai. Tức là họ nói: chúng tôi không sai. Nhưng chúng tôi tặng giải thưởng.

Như thế là một nhà nước không đủ can đảm để nói lên một sự thật. Không sòng phẳng…

Trần Mạnh Hảo: Không tử tế.

Nguyễn Trọng Tạo: Một nhà nước không tử tế. Và tôi nhắc lại một lần nữa ý của tôi rằng tập thơ Về Kinh Bắc là tập thơ trụ cột của Hoàng Cầm. Nhưng trong phần tác phẩm giải thưởng họ không nhắc đến tác phẩm này. Về Kinh Bắc không được trao giải thưởng.

Tôi muốn nói đến cách ứng xử của các kiểu nhà nước các triều đại đối với văn nghệ sĩ và đối với tác phẩm của họ. Tại sao Lý Bạch được vời vào cung vua rồi lại phải bỏ đi… đày. Pushkin cũng vào cung điện của Nga Hoàng rồi lại cũng bỏ đi. Tôi muốn nói là thể chế nào cũng tìm cách biến nhà thơ thành…

Trần Mạnh Hảo: Thành nô bộc.

Nguyễn Trọng Tạo: Nhà thơ nào muốn có tự do thì đều phải bỏ đi. Nếu anh không muốn trở thành một thứ nô bộc, thì anh phải bỏ đi. Tại sao bỏ đi? Ai cũng trả lời được, chỉ vua là không!

Trần Mạnh Hảo: Đúng rồi, Nguyễn Trọng Tạo hôm nay nói rất hay.

Nguyễn Trọng Tạo: (Cười: không phải hôm nay mới hay!). Phải ra khỏi cung vua thì mới có thơ hay. Ở nơi nào nhà thơ mở được cánh cửa tự do của mình, thì thơ họ mới có thể hay.

Bây giờ nói về cái gọi là văn chương phản kháng. Tôi cho rằng phản kháng chính là tính chất căn bản của nhà thơ, chống lại những bất công của cuộc đời. Nhà thơ là những người có tính nhạy cảm rất cao. Trên cơ sở của sự nhạy cảm mà mầm mống phản kháng mọc lên rất nhanh.

Nếu cụ thể hơn thì đó là sự chống đối, nhẹ hơn thì gọi là phản ứng. Phản kháng có mặt khắp nơi.

Trần Mạnh Hảo: Phản kháng có tính liên tục.

Nguyễn Trọng Tạo: Trước một cái đẹp mới, anh cảm thấy bị hấp dẫn và cố thoát khỏi sự ràng buộc của cái đẹp cũ. Thậm chí anh thấy buồn vì cái đẹp mới vừa xuất hiện, bởi anh biết trước là rồi nó sẽ cũ đi, nó rữa nát. Buồn như thế đã là phản kháng.

Nhưng thơ và văn chương phản kháng cũng có thể mang tính chính trị, và như thế quả nhiên có một loại thơ phản kháng. Một dòng thơ phản kháng. Nó là một dòng. Hai mươi sáu năm trước tôi viết bài thơ “Tản mạn thời tôi sống”, người ta cũng cho rằng đó là một bài thơ phản kháng.

Tản mạn thời tôi sống 

1. 
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa 
Như thời đã đi qua như thời rồi sẽ đến 
Nhưng cái thời tôi sống 
hẳn khác xưa 
Trong bài hát thêm bom rơi và súng 

Anh yêu em – anh phải đi ra trận 
Vợ yêu chồng – biết chờ đợi nuôi con 
Đất yêu người – đất nhận làm lá chắn 
Hai mươi năm không nguôi lửa chiến trường 

Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn 
Khăn tang bay người sống trắng mái đầu 
Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ 
Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu 

2. 
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa 
Nhưng màu hoa thời tôi thì có khác 
Xe đến công trường bay mù bụi cát 
Mùa hoa thường lấm bụi suốt mùa khô. 

Lúa ngậm đòng lụt bãi đến xô bồ 
Nhà đang dựng thiếu xi măng, thiếu gạch 
Bao đám cưới chưa có phòng hạnh phúc 
Mây ngổn ngang lam lũ những dáng người. 

Anh nhớ em nhớ về phía cuối trời 
Nơi đất mới khai hoang chân em dầm trong đất 
Em nhớ anh nhớ về nơi bóng giặc 
Cứ rập rình nơi cột mốc đêm đêm. 

Gió thầm thào như chẳng thể ngồi yên 
Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán 
Con phe sục khắp ga tàu bến cảng 
Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương. 

Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi 
Câu trả lời thật không dễ dàng chi!… 

3. 
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa 
Chỉ vết thương rồi thời gian làm sẹo 
Vầng trăng mọc vào thơ mỗi ngày dường đổi mới 
Người lo toan vầng trăng chẳng yên tròn. 

Thời đã qua sẽ chẳng khỏi ngạc nhiên 
Nếu trở lại bây giờ vẫn quần nâu dạo phố 
Thời tôi sống cả đến bầy em nhỏ 
Diện quần bò nhảy theo điệu nhạc vui. 

Đài thêm nhiều những bài hát yêu nhau 
Những điệu múa ba-lê hồng hào thêm sân khấu 
Cái mới đến ngỡ ngàng rồi nhập cuộc 
Báo bớt trang, báo thêm chút thơ tình. 

Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng 
Ai giả dối rồi biết mình lầm lỗi 
Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi 
Câu trả lời thật không dễ dàng chi. 

4. 
Khi đang đắm yêu có tin được bao giờ 
Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ 
Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ 
Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn.

Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm 
Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở 
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ 
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần!… 

Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng 
Nhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đá 
Thời tôi sống thêm một lần súng nổ 
Trái tim đau đang rỏ máu dọc biên thuỳ ! 

5. 
Rồi thời gian qua đi rồi tuổi trẻ qua đi 
Ai sau tôi ở vào thời sắp đến 
Thời không còn khổ đau thời không còn nghèo túng 
Đọc thơ tôi xin bạn chớ chau mày. 

Bạn hãy quên vất vả những tháng ngày 
Bao lo lắng đời thường từng làm tuổi xanh bạc tóc 
Chỉ Hi vọng và Niềm tin giúp ta thêm sức lực 
Câu thơ này xin bạn nhớ giùm cho: 

Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa!…

(Hà Nội, tháng 6. 1981)

Bài thơ của tôi không phải là một bài thơ chính trị, nhưng tôi nói những điều đó bằng linh cảm dự báo của một nhà thơ đối với các thay đổi của xã hội Việt Nam . Lúc ấy tôi đã nói ra được một Sự thật đau đớn, và xã hội Việt Nam phải thay đổi. Tôi tin rằng đó là quy luật.

Nhưng khi họ đánh tôi, ép tôi, thì họ bảo: Ông nói Chúa như thế là ông đánh vào Đảng. Nói xấu thần tượng tức là nói xấu cụ Hồ. Họ đem tôi ra kiểm điểm.

Tôi có ý định tự tử.

Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh, đó là vào năm nào?

Nguyễn Trọng Tạo: Năm 1981. Trong khu tập thể của các nhà văn quân đội, tôi và nhà thơ Nguyễn Hoa ở cạnh nhau, chung vách có cửa thông qua. Vì là sĩ quan, tôi và Nguyễn Hoa đều có súng ngắn, mỗi khẩu súng mười viên đạn. Lúc đó Nguyễn Hoa về quê. Tôi lục tủ lấy khẩu súng của anh ấy, thêm vào khẩu của tôi là hai.

Tôi suy nghĩ nếu chỉ dùng khẩu súng của mình thì có thể không chết mà chỉ bị thương. Mà bị thương thì mệt quá. Tôi không sợ chết nhưng sợ bị thương. Chết thì không còn biết đau đớn là gì, còn bị thương thì đau. Tôi lắp đạn vào cả hai khẩu súng, trải khăn trắng lên gối, nằm dài trên chiếc giường cá nhân. Tôi nằm ngửa, kê hai khẩu súng vào hai bên thái dương.

Tôi nghĩ mình làm thơ là để nói lên những cảm nghĩ trung thực của mình. Thế mà họ lại đàn áp một nhà thơ trung thực, mà lại là nhà thơ bộ đội, thì thà chết mẹ nó đi còn hay hơn. Cái chết của mình cũng là một lời cảnh tỉnh đối với người làm văn nghệ, người lãnh đạo văn nghệ.

Tôi nằm nhìn trần nhà rất lâu, rồi lại nghĩ: sao lại vô lý thế này.

Tôi bỏ ý định tự tử và ngồi dậy viết một mạch những ý thơ vừa xuất hiện trong đầu. Sau này đặt tên là “Mười bài thơ và một lời ước muốn”. Tôi phải sống để tôi còn làm thơ như thế nữa. Vì trong xã hội, xấu đẹp gì thì nhà thơ cũng phải nói lên sự thật. Nếu mình không nói sự thật thì ai nói giúp mình?

Nhà thơ phải nói lên sự thật, không chỉ là sự thật tâm trạng của anh, mà còn cả sự thật ở bên ngoài anh. Anh có thấy không, anh có nghe không, anh có ngửi thấy không? Tất nhiên là sự thật phải được nói bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Ngay cả phim ảnh mà nếu làm giống hệt sự thật thì cũng là kém, huống gì thơ. Nghệ thuật là sự thật ở bên trên sự thật. Tại sao điện ảnh Việt Nam lại kém? Là bởi vì nó dùng một thứ ngôn ngữ của sự thật tầm thường, trong khi nghệ thuật lại là một sự thật cao hơn. Vì vậy mà nghệ thuật phim ảnh hiện nay ở Việt Nam , mới mở mắt ra đã thấy nó giả rồi.

Trần Mạnh Hảo: Nó giả vì nó không phản ảnh sự thật của đời sống hiện nay.

Nguyễn Trọng Tạo: Như vậy điều quan trọng là nhà thơ phải nói ra sự thật. Nói ra được sự thật là nhà thơ đã tìm được tự do. Tôi nghĩ, tự do đối với văn nghệ sĩ chẳng ở đâu xa. Tự do chính là lúc anh ta nói ra được sự thật.

Trần Mạnh Hảo (đùa): Hôm nay ăn phải thứ gì Nguyễn Trọng Tạo nói hay quá.

Nguyễn Trọng Tạo: (Hảo khen xưa rồi). Bây giờ chúng ta trở lại với câu hỏi của anh Nguyễn Đức Tùng, đó là thơ dành cho đám đông quần chúng hay là dành cho một thiểu số người đọc. Tôi cho rằng ý kiến của anh Thanh Thảo và anh Nguyễn Thuỵ Kha cho rằng thơ không dành cho đám đông có thể là ý kiến cực đoan: anh đánh giá quá cao vai trò của thơ ca. Quá cao. Thơ ca thực sự không đến mức phải như thế. Hay là để cho nó quá chịu thiệt thòi như thế.

Thơ ca không người đọc tức là không có thơ ca. Thơ không người đọc và không có người nghe thì là thứ thơ gì?

Vừa rồi tôi thấy thơ trình diễn xuất hiện ở Việt Nam . Những anh em trẻ thì bao giờ cũng muốn làm mới. Hiện nay họ tương đối có tự do. Có tự do nhưng không có người đọc người nghe thì cũng chả để làm gì. Họ cố đi ra ngoài cái chính thống. Nhưng về nghệ thuật cái chính thống cũng có cái hay của nó, nó là cái khuôn, nghĩa là lọt vào thì nó cho qua, không lọt vào khuôn thì không qua được. Còn anh ra khỏi cái chính thống, thì anh chẳng có tiêu chuẩn nào cả. Ai nói trời nói đất gì cũng được. Và anh sẽ tạo ra cái khuôn mới.

Ai cũng biết tôi được mệnh danh là người ủng hộ mạnh mẽ các nhà thơ trẻ. Hôm nay có mặt ở đây, các anh Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo đều là những người ủng hộ thơ trẻ, nhưng tại sao người ta hay nhắc đến tôi. Là vì tôi ủng hộ những trường hợp cá biệt và thậm chí dị biệt. Như Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, NguyễnThế Hoàng Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến… mỗi người có những nét riêng. Nhưng làm mới đến mức phi nghệ thuật, cái kiểu thơ trình diễn kiểu cạo trọc đầu, bôi mặt đỏ mặt đen, đi qua đi lại, tắt ánh sáng, tuột áo quần ra, ngồi xuống cái bịch… mà gọi là thơ, thì đó là sự lố bịch.

Tôi đã từng giới thiệu thơ hình khối, thơ mẫu tự, thơ cụ thể, thơ câm. Nhưng cái gì cũng có những biên giới của nó, có “an nhữ chi” (chữ của Nguyễn Trãi) của nó.

Có nhà thơ vẽ một cây đàn trên trang giấy, ngoạch ngoạc mấy vệt, như thế có phải là thơ không. Nếu là một bức tranh, mà là tranh đẹp, thì nó là tranh. Vẽ những hình xấu xí mà gọi là thơ thì đấy là sỉ nhục thơ. Lại có nhà thơ để tất cả các trang giấy không, tức là không có gì cả, hay trang thì màu xanh, trang thì màu trắng, trang thì màu cái… đồ lót của đàn bà rong kinh.

Tất nhiên khi anh làm thơ thì không nhất thiết là làm cho mọi người, hay làm cho ai hết. Anh chỉ làm cho anh thôi cũng được. Nhưng khi người ta nói tôi làm thơ không cho mọi người mà chỉ cho tôi thôi, thì đó chỉ là một cách nói. Nhưng nếu nói như thế một cách nghiêm túc thì đó là sự cao ngạo.

Nếu thơ tôi được nhiều người đọc, được cả đám đông đọc thì tôi rất thích. Còn nếu thơ anh dở thì không có ai đọc cả, tôi không đọc anh mà chính anh cũng chẳng đọc anh. Thế thì có phải là thơ không?

Trần Mạnh Hảo: Đúng như thế.

Nguyễn Trọng Tạo: Làm thơ là tự giải toả mình bằng kinh nghiệm của một cá thể trong một thế giới.

Trần Mạnh Hảo: Maiakovski là một nhà thơ lớn của nước Nga Xô-viết, là bậc thầy của nhiều nhà thơ Việt Nam , là người đã tự bắn súng vào đầu mình để tự tử dưới chế độ Xô-viết. Dĩ nhiên Lenin rất cần đến ông ta, thế mà khi có người hỏi Lenin rằng ông ấy có thích thơ của Maia không. Lenin trả lời không. “Tôi không thích thơ của Maia, nhưng nó là cái loa của giai cấp vô sản Nga, phải để cho nó nói”. Mặc dù là người nổi tiếng như thế, Maia lại nói thơ không phải là nghệ thuật của quảng trường. Ông ta là người đã tự bắn vào đầu, kiểu như của Nguyễn Trọng Tạo đấy.

Nguyễn Trọng Tạo: Nhưng tôi lại không muốn làm như ông ta.

Nguyễn Đức Tùng: Anh Nguyễn Thuỵ Kha nói với tôi rằng, thời kì đổi mới, thời Nguyễn Văn Linh, chính anh Nguyễn Duy và anh Trần Mạnh Hảo là hai nhà thơ thường xuyên đi đọc thơ trước những đám đông hàng ngàn người, và đọc rất hay. Thơ của hai anh được nhiều người yêu mến, và có nhiều bài đúng là thơ của quảng trường.

2007

(Còn nữa)


Bài đã đăng của Nguyễn Trọng Tạo

Không có phản hồi/No comments

Comments feed for this article