Nguyễn Đức Tùng: Bài khép lại Chủ đề 2 Hội Luận

Nguyễn Đức Tùng

Bài khép lại Chủ đề 2 Hội Luận
THƠ: NGƯỜI VIẾT VÀ NGƯỜI ĐỌC
 
 
Làm thơ là tự bộc lộ trước người khác, là thể hiện những cảm xúc và suy nghĩ riêng tư, chân thật về đời sống và về bản thân mình. Nhà thơ không cần phải kể lại tất cả tiểu sử của mình, không cần nói hết ra mọi điều, nhưng khi anh ta lên tiếng trong thơ về bất cứ điều gì, thì đó chỉ có thể là tiếng nói trung thực và chân thành.
Trung thực và chân thành là những tính chất khác nhau, nhưng chúng đều là những đức tính khó khăn.
Vì thế, đôi khi cố gắng lắm ta vẫn không làm được.
Ngược lại, cảm xúc theo nỗi cảm xúc của người khác, suy nghĩ cùng suy nghĩ của anh ta, thật cũng không dễ dàng: tôi muốn nói đến quan hệ giữa người đọc và người viết. Con người lớn lên, do những ràng buộc về văn hoá, tập quán, các thiết chế gia đình, xã hội, vốn có tính áp đặt ngay cả trong những thời đại được gọi là tự do nhất, bao giờ cũng có khuynh hướng tự kiểm duyệt mình. Anh ta không muốn, và nói cho cùng là không đủ can đảm, bộc lộ các xúc cảm thẩm mỹ và các suy tưởng xã hội, nếu anh ta cảm thấy chúng không được người đời, gia đình, cấp trên, bạn bè chấp nhận. Khuyến khích thêm cho điều này, từ phía người đọc, là khuynh hướng ưa chuộng sự dễ dãi có tính bình dân và phổ biến.
Tôi không tin rằng thơ có tính bình dân.
 
Sự dễ dãi bao giờ cũng là bản thỏa hiệp không lời đến từ hai phía. Đó là sự thỏa hiệp về văn hoá: những thói quen và phong tục trong một không gian văn hóa có nhiệm vụ giữ cho bạn một đời sống tiện nghi tinh thần. Chúng cũng giống hệt như các tiện nghi vật chất. Lúc còn bé khoảng bảy, tám tuổi, một lần tôi bỗng thức dậy rất sớm, khoảng năm giờ sáng. Mùa đông ở thôn quê lạnh lẽo, mưa trên lá chuối, gió rít qua khe cửa. Tôi nằm vùi trong chăn ấm, ló đầu hé mắt nhìn sang bàn làm việc của cha tôi. Ông dậy từ lúc nào, ngọn đèn dầu Huê Kỳ chiếu sáng một vùng vừa đủ để ông ngồi viết. Tôi cảm thấy hơn bao giờ hết cái thú vị của người được nằm trong chăn, và tôi cam đoan với bạn rằng vào lúc ấy không có gì trên đời này có thể lôi tôi ra khỏi chiếc giường của mình. Lúc đó tôi không hiểu vì sao người ta có thể bật dậy khỏi tổ ấm lúc nửa đêm để làm những thứ công việc có vẻ không cần thiết lắm.
Đó cũng là sự dễ dãi có tính thực dụng. Không gì bực mình hơn là bị làm phiền trong khi mọi chuyện có vẻ đang tốt đẹp đối với anh và vợ con anh. Vợ anh sắp lên lương, con anh sắp đi du học chẳng hạn. Đó là sự lười biếng về thẩm mỹ. Đứng trước một cái đẹp mới, một số ít người ngẩn ngơ, bị chinh phục ngay lập tức, nhưng nhiều người khác quay đi, cười nhạo. Sự dễ dãi được nuôi dưỡng bằng sự mơ hồ. Mơ hồ chứ không phải là hoài nghi.
Đúng là có những bài thơ hay mà không mới, và có những bài thơ mới mà không hay. Và giữa chúng là những bài thơ không thể xác định được. Sự phân biệt này không mấy khi rõ ràng: đây là sự khác nhau về mức độ đậm nhạt (matter of degree). Tất nhiên lý tưởng nhất là có cả hai, vừa hay vừa mới, nhưng cũng có một số độc giả thích đọc thơ hay mà không cần phải mới lắm, và một số độc giả khác chỉ đi tìm cái mới mà không khó tính đối với chuyện hay hay dở của bài thơ.
Hầu hết người đọc thơ Việt hiện nay không được may mắn như thế: họ không rơi vào nhóm thứ nhất, cũng chẳng thuộc vào nhóm thứ hai: họ hoang mang, lạc đường. Cuối cùng thì họ sổ toẹt vào thơ: các tập thơ không bán được; đem tặng, người ta lễ phép nhận rồi lén cất đi, không ai đọc. Trong một quán ăn bình dân ở Sài Gòn, một lần cách đây mấy năm, tôi thấy những thực khách ở bàn bên cạnh bắt người bạn nào đó trong bàn muốn đọc thơ của mình thì phải trả tiền. Chuyện này dĩ nhiên có vẻ hài hước, nhưng không phải là không phản ảnh một vài sự thật.
Một trong những sự thật đó là: từ xưa đến nay, các nhà thơ Việt Nam rất khó được người khác biết đến, với nghĩa là ít được đọc, nhưng khi họ đã nổi tiếng rồi thì cái bóng của họ lại đổ rất dài trên đường. Chỉ có lúc sáng sớm và chạng vạng thì bóng mới dài như thế. Tôi quen biết một nhà văn, anh ta chỉ thuộc một vài tên tuổi, thuộc một vài bài thơ, và đi đâu hay viết gì cũng chỉ nhắc đến chừng ấy câu. Khổ thay, đó không phải là những câu thơ hay lắm. Trong tình hình như thế thì nhiều nhà thơ trẻ, mới viết, chỉ còn cách là bắt chước mà thôi. Nhưng bắt chước thì làm sao vượt qua người đi trước? Nên họ đành đem thơ mình ra đọc ở các quán nhậu (mặc dù điều này không phải là một thói quen xấu). Tôi vừa đọc một vài trang thơ trên các tạp chí văn nghệ, giấy in còn thơm mùi mực, và gặp lại đúng loại thơ như thế. Như gặp lại bạn cũ. Tức là sáo mòn.
Sáo mòn trong lối viết tức là sáo rỗng về tâm hồn. Của cá nhân và xã hội.
 
Tuy nhiên, sự hy sinh và chịu đựng gian khổ của các nhà thơ và kẻ sáng tạo văn học lại cần được biết đến và được cảm thông nhiều hơn. Tôi biết có những nhà văn mỗi ngày thức dậy sớm hơn hai giờ đồng hồ để viết, trước khi lái xe ra đường, có những nhà thơ “ăn cắp” giờ của công sở, và của vợ con, đóng cửa tự làm tù nhân của chính mình, đành chịu trở thành một người vợ hay người chồng có phần thiếu sót bổn phận trong gia đình. Đành chịu sống nghèo. Đó mới chỉ là những khó khăn trong đời sống thường nhật, chứ chưa kể đến những hy sinh và những cái giá phải trả đắt hơn rất nhiều mà chúng ta đều biết đến các ví dụ. Nhưng những hy sinh, gian khổ của người viết cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu những tác phẩm mà anh ta hay chị ta làm nên không phải là những bông hoa đầy hương sắc dành cho cuộc đời.
Tôi không có ý cho rằng thơ lúc nào cũng thơm ngát như là hoa, và như là một cô gái mới lớn ngượng ngùng xấu hổ trước ngôn ngữ tục tĩu. Thơ chấp nhận cái đẹp trong mọi dáng vẻ của nó, chấp nhận tất cả mọi đề tài, miễn là chúng được thể hiện một cách đầy nghệ thuật, bởi vì, tôi thiết nghĩ, thẩm mỹ là mục đích cuối cùng của thơ ca. Nhưng dĩ nhiên không phải là mục đích duy nhất.
Những mục đích nào nữa?
 
Poetry
Pardon me for having helped you to understand
You are not made of words alone
(Ars Poetica 1974, Dalton. Schaaf, trans.)
 
(Thơ ca
Tha thứ cho ta giúp bạn hiểu rằng
Có phải đâu bạn chỉ làm bằng
Các chữ mà thôi)
 
Tôi tin một nền thơ có giá trị nên trở thành tiếng nói của thời đại mình, lay chuyển đến gốc rễ thói vô lương tâm, cái ác, thói đạo đức giả, sự vô minh lịch sử và sự ngụy biện văn hoá. Trong khi hoàn toàn có thể tự cho mình là những kẻ rong chơi ngày tháng, nghêu ngao ca hát, thì các nhà thơ cũng không nên ngoảnh mặt trước những khổ đau hiện thực và suốt đời chỉ đuổi theo cái bóng của trái tim đàn bà trên vách.
Ngay cả đối với những người cho rằng thơ hoàn toàn thuộc về lĩnh vực tình cảm, thì một bài thơ không phải chỉ là một hành vi xúc cảm đơn nhất, mà chứa trong nó nhiều nhát cắt văn hoá, như những vòng năm trong thớ gỗ, dồn tụ lịch sử cảm xúc, cảm giác, cảm nhận của một cộng đồng. Không phải vì vậy mà thơ biến thành lời giải cho các phương trình xã hội hay phục vụ các mục đích thực tế khác. Người làm thơ và người đọc thơ tạo ra trường tương tác đặc biệt: họ cùng nhau sáng tạo một hiện thực kì lạ. Đối với kẻ đứng ngoài, đó là một hiện thực không có thật, vô bổ, nhưng đối với họ, đó là hiện thực sung mãn và có ích.
Làm cách nào để một nhà thơ có thể sáng tạo những bài thơ hay hơn, mới hơn, so với chính anh ta? Làm sao để anh ta, chị ta đứng nhón chân cao hơn cái hàng rào của nhà mình? Làm thế nào để một bài thơ đã hay và mới rồi, hay gần được như thế, thì người đọc có thể hiểu, cảm nhận nó một cách mau chóng và sâu xa? Đó là vai trò của các nhà phê bình, các mục điểm sách, các thư từ trao đổi của độc giả và tác giả, và đặc biệt các diễn đàn như Hội Luận Văn Học Việt Nam.
Khác với các văn bản văn xuôi khác, khi đọc thơ người ta thường tìm kiếm một điều gì đó giữa các dòng chữ. Họ đọc với tâm trạng chú ý và tỉnh thức, nhưng lại không phải đi tìm các thông tin cụ thể. Như thế, đọc thơ là một công việc có phần khó khăn.
 
– Trời ơi, đọc thơ mà khổ sở như thế thì đọc làm gì?
– Thế ngày xưa, trong mối tình đầu, bạn có khổ sở không?
Có hai quá trình khác nhau: quá trình hiểu thơ và quá trình thưởng thức thơ. Tôi gọi là quá trình mà không gọi là giai đoạn vì chúng có thể xảy ra theo thứ tự trước sau, tiệm tiến, hoặc xảy ra cùng thời, ngay lập tức.
 
Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
(Hàn Mặc Tử)
 
Mới đọc lên đã thấy đúng là thơ rồi. Mà nó thơ thật. Mặc dù không phải là câu hay lắm so với các câu khác trong toàn bài.
Không là câu hay nhất, nhưng nó là câu thơ quan trọng nhất. Không phải vì nó là câu mở đầu. Nhưng tôi sắp đi quá xa, xin trở lại với ý tưởng chính.
Đọc câu thơ trên, hay những câu mượt mà như
 
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
(Xuân Diệu)
 
bạn chẳng cần phải “hiểu” gì cả. Nghĩa đen (denotation) của nó cũng là nghĩa bóng (connotation). Ít nhất là trong giới hạn của vấn đề đang bàn ở đây. Lúc đó bạn chỉ còn việc “thích” hay “không thích” mà thôi.
Tôi xin nêu một ví dụ khác, một nhà thơ nói với bạn trên điện thoại: Ngày mai tôi sẽ đến thăm bạn. Bạn chỉ cần nhớ đến cái ý tưởng là ngày mai anh ấy hay cô ấy sẽ đến thăm, lúc mấy giờ, bạn cần ăn mặc ra sao, có cầm bông hồng hay không, v.v… mà không cần nhớ đến từng chữ được nói ra và theo thứ tự nào. Nhưng khi nhà thơ ấy viết lên trang giấy, cũng câu như thế: Ngày mai tôi sẽ đến thăm bạn, người đọc cần tỉnh táo, thậm chí cần đọc đi đọc lại. Trước mắt bạn biết đâu có thể là một câu thơ hơn cả tuyệt vời. Nhưng cũng có thể, và thường khi, rất tiếc, đó là một câu thơ dở.
 
– Cũng chưa chắc.
Nếu tôi đặt cho bài thơ chỉ gồm một câu duy nhất này một cái nhan đề tử tế thì sao? Thần chết, chẳng hạn. Như thế, văn bản của một bài thơ quan trọng hơn hay sự tiếp nhận của người đọc đối với văn bản ấy quan trọng hơn? Tôi cho rằng không có một câu trả lời duy nhất cho mọi trường hợp. Bởi vì thơ đem lại những cơ hội bất ngờ và phong phú cũng như chính đời sống chúng ta.
 
 
Nhờ sự phong phú đó mà trong gần ba tháng của Chủ đề Thơ Việt Nam Hôm Nay, Hội Luận đã nhận được rất nhiều tham luận và bình luận có giá trị của các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình và độc giả trong, ngoài nước. Những bài viết hoặc ý kiến ngắn làm tôi chú ý, xin được kể không theo thứ tự nào, là của các tác giả: Trần Thiện Huy, Mai Văn Phấn, Trần Nghi Hoàng, Đỗ Lai Thúy, Khánh Phương, Khải Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Thiện Khanh, Thái Kim Lan, Thanh Thảo, Tô Lân, Nguyễn Đình Chính, Việt Phương, Ngô Minh, Lê Thiếu Nhơn, Dư Thị Hoàn, Chân Phương, Hà Minh, Một Danna, Trần Mộng Tú, Nguyễn Văn Thọ, ĐaMi, Nguyễn Đặng Mừng, Vĩnh Phúc, T.C. Nguyễn, và nhiều vị khác. Mục bình luận diễn ra sôi nổi, thậm chí căng thẳng, nhưng vẫn giữ được sự trang nhã cần thiết. Các trang websites, blogs và nhiều thân hữu, bằng cách này hay cách khác, đã nhiệt tình giới thiệu rộng rãi Chủ đề Thơ của Hội Luận.
Trong một thời gian ngắn, chúng ta bước đầu đề cập đến nhiều vấn đề, đan vào nhau trong từng bài viết, khó tách bạch: ngôn ngữ thơ ca hiện nay như thế nào, các nhà thơ chịu ảnh hưởng của ai, tác động của các lý thuyết mới, cái tục trong thơ, chủ nghĩa hậu hiện đại, người đọc nghĩ gì về thơ đương đại, cách đọc một bài thơ, phê bình, dịch thơ như thế nào… và sự phản hồi đã diễn ra mau lẹ, thích đáng, mặc dù ai cũng biết rằng thơ không bao giờ có thể sôi động như… thị trường chứng khoán.
Nếu đòi hỏi cao hơn nữa, Hội Luận vẫn chưa đạt được nhiều thành tựu như ý muốn ban đầu. Sự tham gia của các nhà thơ chưa thật đông đảo, dù trong những tuần lễ cuối, hình ảnh này đã được cải thiện nhiều. Các bài viết chưa đi sâu vào học thuật và đi đến tận cùng các quan điểm. Chúng ta còn bỏ trống nhiều khía cạnh, như: đánh giá một cách tổng quan các nền thơ và các khuynh hướng trong năm mươi năm qua, chức năng xã hội của thơ, các lý thuyết hiện đại của thơ và ngôn ngữ, đọc và đánh giá một số nhà thơ và một số bài thơ cụ thể (có lẽ trừ trường hợp Lê Đạt), ảnh hưởng của thơ nước ngoài đối với thơ Việt Nam, tư cách chính trị của các nhà thơ như những người trí thức cầm bút… Tôi lấy làm ngạc nhiên là chủ nghĩa hậu hiện đại không được bàn kỹ; Và cũng không ai nhắc đến phương pháp hiện thực (xã hội chủ nghĩa) một thời làm mưa làm gió trong lý luận về thơ và văn học. Có nhà thơ trẻ trong nước bảo tôi là nó đã chết rồi. Nhưng khi đi thăm mảnh đất lý luận phê bình mất mùa gần đây, tôi thấy nó vẫn còn sống khỏe mạnh.
Dù thế nào đi nữa, bằng những cố gắng ngoạn mục của mình, các tác giả tham gia Hội Luận đã bước đầu vẽ ra được chân dung của nền thơ Việt Nam hiện nay, tuy còn sơ lược nhưng không phải là quá xa sự thật.
 
Chủ đề thứ Ba của Hội Luận về phê bình văn học, sẽ bắt đầu trong vài tuần lễ tới đây do nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phụ trách. Xin cảm ơn tất cả các bạn đã đọc, tham gia viết bài, giới thiệu rộng rãi cho bạn bè, làm cho chủ đề thơ của chúng ta diễn ra sôi nổi.
Nhà thơ Thanh Thảo, Chủ biên, tác giả lá thư mở đầu sâu sắc và dí dỏm, và nhà thơ Đỗ Quyên, Tổng thư ký, đã đề nghị tôi viết bài tổng kết. Tôi không phải là người có khiếu… viết tổng kết, vì vậy tôi đã (nổi hứng) đi viết những cảm nghĩ rất riêng tư của mình, bất chợt hiện lên sau vài ngày ngồi đọc một lượt các trang Hội Luận, đọc lại những dòng chữ lấp lánh tài năng, lóng lánh tâm sự của nhiều tác giả. Lúc viết những dòng này, lòng tôi lóe lên niềm hy vọng. Đây là một cảm giác mà tôi khó giải thích. Nền thơ Việt Nam hình như sắp sửa bước ra khỏi thời kì ảm đạm, sương mù, cái gì cũng mơ mơ hồ hồ, đặt những bước chân đầu tiên lên cánh đồng rộng rãi, tuy cỏ dại còn nhiều nhưng những lớp đất đen màu mỡ đã bắt đầu lộ ra.
 
Tôi biết rằng không phải ai cũng đọc thơ và cần đến thơ. Không phải người đọc nào cũng là độc giả của thơ ca.
Nhưng những người đọc nó và cần đến nó tạo ra một tầng lớp độc giả đặc biệt. Họ kết thành một thứ gần như là phần đẹp đẽ của tâm hồn dân tộc và thời đại mình. Một tâm hồn bị tổn thương. Chúc cho họ ngày càng có tiếng nói trong dòng chảy lịch sử, ngày càng hiểu biết và tự tin hơn, ngày càng đông vui lớn mạnh. Chính những người đọc này, và sự đồng cảm của họ, là phần thưởng tinh thần cho những khó khăn, hy sinh của người viết – là những kẻ, trong suy nghĩ thô thiển của tôi, từ chối sống một cuộc đời ích kỷ, nông cạn, phù phiếm.
 
 
Vancouver, 26/6/2008
Nguyễn Đức Tùng
 
 
Tài Liệu Tham Khảo:
 
– Tìm thơ trong tiếng nói, Đỗ Quý Toàn, NXB Thanh Văn, Hoa Kỳ, 1992
– Sông Hương Tuyển Chọn (1983- 2003), Ban tuyển chọn: Nguyễn Khắc Thạch, Hồ Thế Hà, Hồng Nhu, Ngô Minh, Trương Thị Cúc, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2003
– Tạp chí Thơ, Hoa Kỳ, 2006 – hiện nay
– Thơ, tạp chí, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà nội, 2007- hiện nay
– Tuyển tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, 2007
– Những khoảnh khắc đồng hiện, Hồ Thế Hà, NXB Văn học, 2007
– Cảm nhận thi ca, Mai Văn Hoan, NXB Thuận Hoá, 2008
– Line Break, James Scully, NXB Bay Press, 1988
– Stylistics, Richard Bradford, NXB Routlegde, 1997
– Of Irony, Especially in drama, G.G. Sedgewick, NXB Ronsdale Press, 2003
– Disappearing Ink, Dana Gioia, NXB Graywolf Press, 2004
– The Ode Less Travelled, Stephen Fry, NXB Hutchinson, 2005


Bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

Không có phản hồi/No comments

Comments feed for this article