Văn Cầm Hải: Ba bài thơ

Văn Cầm Hải

Ba bài thơ
 
 
Mùa thu năm 1992, nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch, lúc đó là biên tập thơ của tạp chí Sông Hương, chuyển cho tôi tập bản thảo thơ mỏng chép trên giấy pơlua nâu của chàng sinh viên năm thứ 4 Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Huế ký tên là Văn Cầm Hải. Anh Thạch bảo: “Thơ thằng này lạ lắm”. Tôi đọc và ngạc nhiên trước những câu thơ lạ lùng: "…Trên da bụng em nườm nượp tiếng khóc… nỗi đau vo ve từng hạt máu / đong đầy nghĩa địa… Đời chị / như viện bảo tàng / có đầy mặt nạ đàn ông… Lá rụng rồi vẫn còn nhả máu…". Tôi chuyển cho nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (lúc đó đang sống ở Huế). Anh Tạo đọc rồi thốt lên: “Đây là một lối tư duy khác, một cách lập ngôn khác, một điệu nhạc khác…”. Tập thơ đó được Nxb Trẻ in với tựa đề “Người đi chăn sóng biển”. Lúc đó Hải mới 20 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học…” (Ngô Minh, 2007)
 
“Thơ Văn Cầm Hải có nhiều liên tưởng rất lạ, mặc dù đôi khi hơi có vẻ cầu kỳ.” (Phan Nhiên Hạo, 2001)
 
“Nguyễn Hữu Hồng Minh (…) cùng những bạn viết đồng lứa: Phan Huyền Thư, Nguyễn Vĩnh Tiến, Văn Cầm Hải… - họ đều là những người có sự "cách tân đặc biệt" về thơ.” (VNN, 2005)
 
Chưa đủ để tạo nên một thế hệ mới nhưng những người viết trẻ cách khoảng từ 15 đến 35 tuổi đã tạo nên một lớp sóng mới cho thơ ca. Những sáng tác của họ đã hình thành một cách nói, một cách nghĩ mới và khác so với thế hệ chống Mỹ chúng tôi mà nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đấy là tư duy lập trình. Tôi đã nhìn thấy ở Văn Cầm Hải một giọng thơ khá lạ của thứ ngôn ngữ hậu siêu thực, trừu tượng, phức điệu và đa chiều.” (Nguyễn Trọng Tạo, 2003)
 
Đ.Q. biên soạn
 
 
NGÔI NHÀ XƯA KHÔN CŨ
 
Chức chánh tổng xanh lên, cố nội tôi quản lý mây trắng vùng Đồng Ruộng
nấm mộ song hồn
đăm đăm
long lanh ngôi nhà xưa không cũ
những cột kèo, bình phong, hồ cạn nho nhã tiếng khóc
vệt nắng hài nhi
lẫm chẫm gạch đá
không cửa sổ
bầu trời dày tựa mảnh chiếu cuốn tròn đời bà
trên đồi cao, cánh tay ca hát, chúng chao liệng bao nhiêu thời đại trú ẩn trong câu khẩu hiệu
con đường xanh màn gân lan man bầu vú
đã bao đời trợ lý đôi môi
chiếc bóng dài ngáp vang lịch sử
bầy khuya khoắt
rên xiết
mười ngón tay cha tôi cong vút tử thần
tiếng mõ rạo rực
vườn chuối bươm cườm tay mẹ ru
mùi tà dương lấp loáng
chiếc thuyền non
mang chị tôi ngàn xanh thi sử
của gia đình, gấm vóc quê hương, cả nấm mộ nhỏ nhoi, trang sách xưng tụng
gương mặt tổ tiên
trong tôi đang cúi lạy
những nhúm nhau phiêu lãng cồn bụng
Có ai gọi nửa đêm, mẹ ơi, dậy đi, xà nhà đã trĩu nặng tiếng khóc khảo cứu tổ tiên và linh hồn sa sẩy
ngôi nhà xưa không cũ
từ câu thơ đầu tiên, rằng chức chánh tổng xanh lên, cố nội tôi quản lý mây trắng vùng Động Ruộng
đến câu thơ cuối cùng phiêu diêu, tôi philadelphia mẫu tự bi bô ông bà.
 
(Philadelphia, 9/6/2008)
 
 
CÁNH CỬA ĐỎ
 
 
Người thảo nguyên ngất đêm
ly thân
cánh cửa đỏ quất buồn đáy huyệt
vực thẳm
hoá thân
con nhạc
lách cách khe cửa
đất rơi
sáng loá nhục thể
nhện giăng mù lưỡi
bài ca ngầm đỏ
những mùa xuân xúng xính biểu diễn sau cửa
người đồi mồi
hạt điện tử cô độc đất Việt.
đã bàng hoàng phím đàn tiên phong
bình luận biển Đông
vườn tôi đau ngọn sóng khô tràn tre nứa
bầy sõi mọc lông ấm thành cổ
bởi mặt đất vắng dần âm tính
thơ lên cõi dương
một bàn tay lạc nốt
cảnh cửa đỏ ngặt nghẽo cảm giác
chúng điềm nhiên mời tôi ly trà đặc nắng
bã mặt trời ngẽn pha cuống họng
lời kinh sử sơn đỏ cánh cửa
vỡ lòng dân tộc ai
trước khung cửa cô độc màu sắc
những ly hương leo qua nước mắt
như âm- ly rướn lên bàn tay
những dòng nhạc không lúc nào nghĩ ngơi định mệnh
cây đàn ngã anh về tận cùng im lặng
không hồi môn
đám cưới tập thể đành đứng ngoài khung cửa
mẹ già lấp lánh nước sôi
trống rỗng vết bỏng
bao nhiêu hộ khẩu mùn tơi trước cửa
những tấm bia trắng bạch huyết quản
cánh cửa đỏ sấm sét
tôi hèn tôi rạch chớp giới hạn
hạt điện tử cô độc xuyên qua cánh cửa
truyền dẫn
chỉ âm thanh mới xoá đổ bầu trời
cánh cửa đỏ ụp mặt
tôi bước vào căn nhà bằng đôi chân cháy mòn hộ khẩu
một tiếng ho choáng mùa
nẩy màu đêm dậy.
 
(Ngọc Đại 27/8/2001)        
                                           
 
LÀNG MI
 
Làng của mi cũng giống như mọi ngôi làng Việt Nam nghiêng bên sông bạc áo chờ đò, mùi tôm cá tanh nồng xông nắng lũy tre, những bóng vàng tru lên trạng thái hoàng hôn kéo quần đêm xuống. Rất nhiều lần mi như bệnh viện đắp mảnh bom thơ lên đứa hài nhi còn chưa ráo máu.
Cha của mi cũng như Cha mọi người, ông cũng là con của mọi làng bị mâm rượu lá trầu dồn đẩy vào đời, bùn đất và nước mặn chộn rộn mồ mã, cơn bão táp lơi mềm nhịp tim.
Việt Nam - em bồng bế mình như chuyện cổ tích mãi sao.
làng của mi tuy cũ nhưng làng mi khó chịu khi thấy mi cũ kỹ
với định mệnh không hề lay chuyển câu thơ luẩn quẩn tình ái, không chấp nhận cơn giông trườn vào bụng nhau vì lề mề cô gái trước gương thích đeo mề mơ nịt cứng vốn vằn lên bao lối mòn ràng buộc thân thể làm mi khiếp đảm
Qua thơ mi cái Ác sẽ tươi tắn hẳn lên, nó làm mi nhớ lại đêm xưa miền em gái Tây Ban Nha tự nguyện nảy mầm trong hạt trấu, mười ngón tay ghi ta lắp bắp, âm thanh vụt tắt trường bắn bao nhiêu mái đầu gục chết, mi chợt hiểu cái áy náy phục sinh của loài người. Những đoá lưỡi lấp lỗ châu mai cho tất thảy bọn trẻ được ngâm nga bên nhau trong quả trứng đất giàu chất dinh dưỡng.
Mi sẽ đứng sau lưng mọi làng ném lời ăn năn ra trước
những cái Ác lộ diện, rất mộc mạc nơi lưng quần bầy rận kêu la về cái bẹn không căng mặt trống cho mi gõ thanh xuân
Cây đa già trong bộ quần áo lắm lời mẹ trách, mi làm hướng dẫn viên cầm tay em nhỏ ước mơ tổ tiên du lịch tử cung trước khi thăm trái đất
mi muốn làm bọt sóng để chân trời thấy nỗi đau ghềnh đá
Mi yêu Duly - mái tóc Tây Ban Nha phả giọng nắng miền Trung. Tuyệt vời thay vị Thành hoàng làng mi chấp nhận Duly vì qua mi người biết những hột vú của nàng cũng giống mùa cau trong làng. Mi lúc nào cũng muốn chia lửa nguyên thuỷ, đang lúc ấy mi hiểu ngôn ngôn ngữ làng mi mang tính toàn cầu hoá. 
Trên thân thể mi một ngày đi qua không có nốt ghẻ mới cũng đủ buồn và tất nhiên lịch sử sẽ trách móc mi hơn bao giờ hết.
Ngôi làng mi mãi mãi là thời trang nhân thế, bên Nhà trắng hay Điện Kremli, những bông hoa hiền tính lập lòe trên mái nhà tranh lỗ chỗ ý nghĩ máy bay bay qua cho cái Ác nhảy đựng lên cõi niết bàn mà không hề hối hận.
Không phức tạp nông trại, con gái làng mi sẵn sàng dắt lợn phối giống khắp mùa động đực nhưng lại như bao bà già cuối đời vẫn đỏ mặt cách điệu với vàng óng bắp ngô tràn trề thực phẩm
Tựa vào đất là sức mạnh nhập cuộc, nhờ mùi đất nước bọt xây tổ đôi môi mi lớn dậy phố phường, gã thầy lang lùng sục người ốm chữa bệnh không lấy tiền, bông hoa bờ ao không chịu mọc rễ trong bình gốm mà như mơ ngả nghiêng ca hát bằng lời thơ bề bộn dĩa rau tươi rói ánh đèn cơm, lũ trẻ con chơi bên lô cốt, anh thương binh bịt răng vàng lóa sau luống cày và thi thoảng lượm vài quả đạn ném tòm xuống ao cho con trâu đi thẳng tới chân trời!
Như con trâu đi thẳng tới chân trời, làng của mi trang Thiền cho mi học lý lịch đời mi!
 
(Mùa Hạ 98)
 
Boston, 22/6/2008 
Văn Cầm Hải
 


Bài đã đăng của Văn Cầm Hải

1 phản hồi/comment

Comments feed for this article

Nguyen Viet Thuong Hoa

Từ lâu nghe tiếng Văn Cầm Hải, cùng với Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là 3 cây viết bút ký nổi tiếng Việt Nam, còn thơ thì lắm lời khen chê. Bây giờ đọc 3 bài thơ của Văn Cầm Hải, quả nhiên là một giọng thơ độc đáo của một tâm hồn phương Đông bí ẩn hòa quyện với thi pháp phương Tây. Cám ơn Hội Luận Văn Học VN đã giới thiệu những bài thơ.

Nguyen Viet Thuong Hoa