T.C. Nguyễn: Thơ – có không?

T.C. Nguyễn

Bộ tam về Thơ

 

1.  THƠ – ĐÒI GIẢNG?

2. NGÔN TỪ THƠ


3. THƠ – CÓ KHÔNG?

Khi Nietzsche bảo “Chúa đã chết” thì chính ông đã từ bỏ cái hiện hữu quá thực (hyper real) để đi vào cái ảo, vì thực tế có ai chết đâu, mà chỉ tội nghiệp cho ông cố bới tìm cái mà ông cho là thực và rồi vì ông không tìm được ra cái ông cố tìm (found object) cho nên cuối đời ông điên loạn (Việt Nam ta, Bùi Giáng cũng có cái điên chữ nghĩa đó). Xét cho cùng thì khi sự thật có tính tuyệt đối thì tự nó chao động thành tương đối, hay nói khác hơn ảo và thật tự nó là một, khi cái này đè lên cái kia làm cho bản chất sự vật trở nên ảo diệu – Trong thơ thể hiện rất thú vị về sự chuyển dịch có-không này.
Hãy đọc bài thơ Tống Biệt của Tản Đà:


Tống Biệt

 

Lá đào rơi rắc lối thiên thai

Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt.

Nước chảy, hoa trôi

Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ nay xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi…

Từ câu chuyện truyền kỳ “Lưu-Nguyễn nhập thiên thai”, vì lòng trần còn vương vấn nên bị đẩy ra khỏi Đào Nguyên sau nửa năm du dương với Tiên nữ, trơ vơ trở về thì cảnh cũ người xưa trải bao thế hệ đã đi qua, làm cho mình thấy hụt hẫng giữa cảnh đời, cái hiện hữu nghĩ về không còn, trong cái thực tại quá thực đang có đó làm cho mình choáng váng, nó chập vào như hư ảo và hai người đã tự bỏ ra đi, một sự trốn chạy khỏi cái thực-ảo đã nhập vào bản thể của vũ trụ.
Như vậy ta có thể thấy cái mà ta bảo là thực hiện hữu, tự nó đã chất chứa nhiều cái hiện hữu khác, như bài thơ, Tản Đà cũng chỉ nhại lại những bài thơ viết về “Lưu/Nguyễn” của những thi nhân Tàu, bằng cách đưa hồn mình vào bằng một cảm nhận riêng, rồi tu từ tạo ra tiết tấu, âm luật, ý tứ… rất Việt. Bài thơ đã bị hóa thân, và như vậy chính thơ đã đẩy đưa từ cái vô lý này đến cái vô lý khác, cái thật hoá thành ảo và ngược lại, cứ như vậy con người lại cố đi tìm cái chân-bản-ngã của thơ trong chốn cùng không!

Trong khi lần mò, giả dụ ta tìm thấy cái bổn chính mà ta cho là vậy, thì cũng không thể quyết đoán rằng bài thơ này chính là nhại của bài thơ kia, vì cái kia ấy còn nhiều cái kia khác nhại lại, như chính trong ngôn từ cũng chỉ là sự lập lại hay là bắt chước của người xưa rồi biến hóa theo kiểu thơ có gì hơn!

Cho nên khi ta cố từ bỏ một hiện hữu chính là ta tự bỏ lấy chính mình, như Descartes nói: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”, trong hiện thực thơ là một sự thách đố, nhại đi nhại lại và tự nó làm tan biến chính nó để tránh khỏi những ngộ nhận chỉ là một con đường phải đi; Khi nào con người vẫn còn chấp nhận đẫy đầy những nôn mửa phi lý thì thơ vẫn còn là một trò vui đầy âm vang dạt về từ quá khứ.

Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ nay xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đừơng lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi…

Thơ nhờ vào tu từ qua thể hồn sáng tạo thì cái gọi là thơ nhại (parody) không còn nữa, mà chỉ là sự tái tục đi tìm bản thể thơ, nó thuộc về cõi trên – Thượng Đế – khi cố với tay đụng đến thì thơ trở thành mơ hồ đẩy đưa thành tiếng thơ mới, hay rõ hơn đó là bổn chính bị đè đến độ tự bựt ra…

Như vậy, khi ta cố bới tìm trong thơ một cái gì đó là tự nắm lấy phần thất bại, vì nhà thơ chính mình viết từ cái Không và người thưởng ngoạn phải tự chính họ tìm cái Có cho chính mình, thì dầu ai có bới tìm hay giải thích gì cũng không đi đến kết luận có tính thuyết phục được người nghe.

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!

Thơ là nghệ thuật tự nó tình tự với chính nó, từ một góc cạnh nào đó cái nhìn sẽ khác nhau của người thưởng ngoạn tiếp cận; Vậy là sự cảm nhận sẽ khác đi, có chăng từng cá nhân ấy tự giải thích cho chính mình là đúng nhất. Đó là thơ – có không!

 

Úc châu, ngày 16/6/2008

T.C. Nguyễn


Bài đã đăng của T.C. Nguyễn

4 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Anh T.C. Nguyễn không T.C.,

Anh viết:

“Thơ là nghệ thuật tự nó tình tự với chính nó, từ một góc cạnh nào đó cái nhìn sẽ khác nhau của người thưởng ngoạn tiếp cận; Vậy là sự cảm nhận sẽ khác đi, có chăng từng cá nhân ấy tự giải thích cho chính mình là đúng nhất. Đó là thơ – có không!”

“Cà khịa” với anh chút: Thơ có-không kiểu anh xem ra không khác chuyện xem voi xưa và chuyện thủ dâm văn chương mà em vừa nói ở bài Trần Nghi Hoàng là mấy.
Em xin anh cho em vài lời thật vắn tắt với mấy thắc mắc sau:

1. Cái “Có-Không” của anh có phải là tư duy Nhị Nguyên không?

2. Anh có thể dẫn chứng hay sáng tác một bài nào đè lên bài của Tản Đà để khai triển ý Không – Có của anh đến đời thứ ba, thứ bốn không?

3. Thơ có nhiều “chồng” không hay chỉ có một, ý em nói là có phải mỗi thi sĩ có thể là một khởi thủy nằm ngửa đợi thi sĩ khác đè lên hay là khởi thủy chỉ có một thi sĩ bị lật ngửa rồi các kẻ khác cứ đến đè lên để thành thi sĩ.

4. Thơ có nên chết như ý “Thượng Đế đã chết” của Nietzsche không? Nếu có thì thơ văn chúng ta sẽ ra như thế nào? Mộ hoang hay hoa cỏ xinh tươi xum xuê trên xác ảo của thơ. Và theo anh, các thi sĩ nhà ta dù Trời sập, chúa chết, đảng tan… đi nữa họ có chấp nhận ý niệm “thơ đã chết” kiểu kia không?

5. Anh nói “Thơ là nghệ thuật tự nó tình tự với chính nó”, nếu hiểu là thơ là nghệ thuật không cần thông điệp nào ngoài nó, ý tưởng này có lỗi thời lắm không? nếu không thì có lý thuyết truyền thông nào biện chứng cho anh?

6. Anh có cảm nhận gì (nhận ra thông điệp gì) với bài thơ “Căn nhà xưa khôn cũ” của Văn Cầm Hải vừa đăng kia không?

Khải Minh

Anh Khải Minh thân,

Vừa mở trang nhà, thấy phản hồi của anh, mới mở đầu đã viết “anh T.C. Nguyễn không T.C,” thì thấy anh đã làm khó tôi rồi, tiếp theo 6 câu “cà khịa” của anh chất vấn cũng đủ “bở hơi tai”, vì biết anh đọc kỹ “Bộ tam về thơ” của tôi nên mới dấy lên những câu hỏi trên. Tôi xin cảm ơn “Sự tri kỷ-tri bỉ” này…

Để anh khỏi đợi lâu, tôi xin trả lời câu “6” bằng cảm nhận một bài “thơ mới”, coi như dùng “bóng chữ” đè chơi, giống như anh nói “Thủ dâm văn chương” cho vui…
Đây bài thơ của tôi làm trong “sát na”, chỉ để làm dáng thôi, xin tác giả bài thơ chính, cười theo cho vui nếu “bóng đè trật vía”…

Vẫn còn đây

Ông tôi – Chánh-tổng xanh mồ cỏ
Làm chủ ngàn mây trắng nội đồng
Nấm đất song hồn nhìn chốn cũ
Nhà xưa mạch sống nổi phiêu bồng

Kèo cột, bình phong, hồ vẫn đấy
Vệt nắng in dài trải lối đi
Tiếng trẻ mở lời òa vỡ khóc
Thơ ngây gạch đá trở vô vi…

Mảnh trời cuốn chiếu ôm bà ngủ
Hơ hểnh đồi cao hát nhẹ ru
Chao đảo bao thời qua… ẩn dấu
Con đường xanh lá… vú thiên thu!

Nối tiếp thời gian trôi cứ trôi
Người xưa cảnh cũ hiện đây rồi
Khôn cùng nối mãi trong vô tận
Phi-la…del-phia!- Ông chính tôi!?

Muốn làm dài nữa nhưng sợ loãng với chính bản lại mang “nghiệp” thì biết bao giờ trả hết. Còn 5 câu còn lại sẽ trả lời sau. Chào bạn KM.
Thân

T.C. Nguyễn

T.C. Nguyễn! – Ông chính tôi!

Anh thật nhanh trí và tài tình biến báo khi đè lên Văn Cầm Hải. Chuyện Có với Không của anh chắc cũng do được đè hay bị đè
mà ra ______ thơ.
Đọc anh thấy “mênh mang” là “KHÔNG” thấy gọn gàng từ mạch đến nguồn là “CÓ” và nhất là thấy Văn Cầm Hải là KHÔNG CÓ.

Đùa xíu cho các nhà thơ biết mình là người phàm. Không biết Văn Cầm Hải có chịu để anh “đè” không?

Khải Minh

Anh Khải Minh,

Như hứa, tôi xin trả lời mấy câu hỏi “cà khịa” của anh:

1/ Nếu đem cái “Tiểu ngã” để so đo thì có thể hình dung đó là lối “tư duy Nhị Nguyên”, nhưng cách tư duy như vậy thì mất đi tính “phản phục”, và cái “Đại ngã” của vũ trụ bị che lấp trở ngăn, tiếng thơ khó đè bật ra nguồn được…

2/ Theo tôi thì Tản Đà lấy ý từ câu chuyện cổ tích tiêu biểu tình người “Từ thức và Giáng Hương” làm ra bài thơ “Tống Biệt” về một câu chuyện tình Tiên-Tục liên quan với những câu chuyện Tàu, như Lưu Nguyễn nhập thiên thai hay Lộng Ngọc lấy Tiêu Sử rồi đi luôn không trở về, riêng Từ Thức thì quay về quê cũ; Đây có mang ấn dấu “qui hồi” rồi mới lẫn hút vào “Hư vô”, cho nên bài thơ của Tản Đà có tính nhân bản “Việt”, đi vào lòng ta là vậy.
Riêng việc bạn bảo tôi làm bài thơ “đè lên” thơ Tản Đà, thì không dám; nếu có dám thì xin “vô ngôn”, và nói ra thì “nghiệp” của Khải Minh đấy!

3/ Thơ có bao “chồng” thì xin chịu, vì thơ phát xuất từ “vô thủy, vô chung”, vả lại thơ tìm người, nên nói chuyện “nằm ngửa chờ” thì tội nghiệp cho thơ và nếu nếu có, thì thi sĩ dùng từ lén đè mà thôi!

4/ Đã nói là “Không ai chết…” kia mà, tất cả đều còn đó và nó có ngả đi khác nhau nhưng đều vào cái “chung” cả (con đường nào rồi cũng về La Mã) có không?!

5/ Theo tôi, ta không thể nói cái nào là lỗi thời hay không. Cái lý lẽ là của sự “tồn vong”, nó so đo lắm, vì mỗi phút giây đều có sự “hồi sinh” hay “hủy diệt” và nó không phải là “chân-bản-ngã” của chính nó đâu! Hãy chờ mà xem!

6/ Đã trả lời trên.

Thân

T.C. Nguyễn