Chủ đề Thơ: Ngày kết thúc là 30/6/2008!

Bạn đọc & Hội Luận

Ngày kết thúc Chủ đề Thơ: 30/6/2008

 

Ban biên tập

Hay tin Chủ đề “Thơ Việt Nam Hôm Nay” sắp khép tấm màn nhung trên Hội Luận, trong các ngày qua nhiều cộng tác viên đã gửi đến nhiều tâm tư cùng bài vở, khiến những người “cầm chịch” vui mừng và… quýnh quáng! Thế nên, cũng là để tiện sổ sách thi ca, quyết định cuối cùng cho Ngày kết thúc Cuộc Thơ này là 30/6/2008.

Cám ơn văn thi hữu Trong-Ngoài Việt Nam, trong-ngoài Thơ là Du Tử Lê, Bùi Minh Quốc, Khánh Phương, Văn Cầm Hải, Trần Tuấn, Nữ Lang Trung, Chân Phương, Ngô Minh, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Văn Dũng, Van Hai, Nguyen Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hồng Hoang, Vũ Hoàng Nguyên, Hoàng Chính, Lê Quỳnh Mai, Vĩnh Phúc, T.C. Nguyễn, Lê Vĩnh Tài, Nhã Thuyên, Nguyễn Đức Tùng, Việt Phương, Đỗ Quyên… vừa mới gửi thư-bài, cùng đông đảo bình luận viên, độc giả đã làm nóng chốn Thơ của chúng ta trong các tuần cuối cùng. Mời Quý vị và các bạn tiếp tục gửi đến chúng tôi tham luận, sáng tác “thơ nhất” của mình để diễn đàn Hội Luận thật xôm tụ trước khi “nghỉ giải lao”, chuyển giao tinh thần và nội dung của nó cho các chủ đề sau, như đã thông báo.

 

Trần Tuấn – Đà Nẵng

Kính gửi BBT! Nhận được thư mời của Hội Luận Văn Học Việt Nam, nhưng lu bu "cơm áo" quá, và thú thật bản tính cũng không muốn "nói" về thơ, dù tôi từ lâu có thói quen không bỏ sót cái gì thuộc về thơ, kể cả mẩu thơ trên trang báo lót… nồi; nên chưa biết gửi gì vào cuộc chơi thú vị của Hội Luận. 

Nhân chuyện "thơ lót nồi", tôi có kỷ niệm không quên: Thời sinh viên Văn khoa ở Huế, khoảng năm 1986 – 1987, đói rét kinh người, lại thêm cái tật cứ để tiền uống rượu, mấy thằng xài chung một cái phiếu ăn. Nên càng đói! May các cụ ở nhà có sổ gạo, nên mỗi lần nhảy tàu chợ về Đà Nẵng, tôi lại "địu" ra cư xá Nguyễn Huệ vài cân, anh em trong phòng hí húi nấu, thêm tí muối đâm, thêm tí rượu, thế là "ấm lòng chiến sĩ’. Một bữa, giữa mưa dầm xứ Huế, bưng nồi cơm nóng hổi lên, thi sĩ Lê Văn Minh Tự (hiện là Trưởng Văn phòng báo Tuổi Trẻ tại Đà Nẵng) – giật vội đâu đó tờ báo trong phòng để lót nồi. Đang cơm rượu tưng bừng, tôi bất chợt phát hiện cái đít nồi đen nhẻm đang đặt trên… thơ! Liền cầm lên đọc chơi, thì tôi nhận thấy đó là tờ Người Hà Nội từ năm trước, có bài thơ của… mình, bên cạnh bài thơ dài "Nhà chật" của Lưu Quang Vũ và thơ của chị Kim Anh! Nhớ lại, mình gửi bài thơ này từ tám hoánh, nhưng chẳng thấy toà soạn ỏ e gì. Nay tình cờ gặp lại khi nó đang được lót nồi. Tờ báo này hiện tôi đang còn giữ! Để thấy rằng, số phận thơ ca cũng bèo bọt thôi, cũng đen nhẻm như cuộc đời…   

Đến giờ áp chót của cuộc chơi này trên Hội Luận, tôi xin gửi bài thơ dài "ĐỈNH RỖNG". Chưa đăng ở đâu hết, cả trên mạng! Mong đuợc "mắt xanh" của Hội Luận ngó tới. Xin cảm ơn. Và tự hứa sẽ "siêng năng" hơn với Hội Luận, trong những cuộc chơi sau. Thân mến!

 

Nguyễn QuỳnhTexas

Kính gửi quí anh chị BBT! Tôi nhận được thư mời nhưng thời gian eo hẹp quá nên xin khất kì này. Mong trong tương lai có dịp làm việc chung. Xin cho biết trước… Chúc các anh chị thành công.

 

Dư Thị Hoàn – Hải Phòng

Giữ lời hứa, gửi BBT bốn bài thơ chọn dịch từ cuốn Độc Giả Văn Trích (Trung Quốc). Chúc Hội Luận thành công hơn nữa.

 

Việt Phương – Hà Nội

Tôi đã đọc một số bài trên Hội Luận, qua đó hiểu Hội Luận hơn. Ở đây tôi gặp nhiều bạn quen, bạn thân… Bài viết của Nhã Thuyên là một bài học cho tôi, giúp tôi hiểu thêm và nể trọng hơn trình độ văn hóa của lớp trẻ. Bài này tạo thêm căn cứ cho niềm tin của tôi vào các bạn ở lứa tuổi của Nhã Thuyên. Tôi cũng đã đọc các bình luận của Khải Minh về bài “Có”. Đó cũng là một bài học tốt cho tôi.

 

Bùi Minh Quốc – Đà Lạt

Kính gửi BBT Hội Luận Văn Học VN! Tôi xin đóng góp với Hội Luận bằng bài dưới đây và mấy bài thơ liên quan. Nếu đã trễ muộn với cuộc thảo luận thì xin dùng như một bài lai cảo bình thường. Cám ơn.

HAI CÂU THƠ CHẾ LAN VIÊN VÀ CHÚT TRẢI NGHIỆM RIÊNG CỦA TÔI

 

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

(Chế Lan Viên – Ánh sáng và phù sa)

Hồi còn là sinh viên, tôi mê hai câu thơ này của Chế Lan Viên lắm, lâu lâu lại khẽ ngâm ngợi một mình, rất lấy làm tâm đắc. Chắc ai yêu thơ Chế Lan Viên cũng đều có cùng sự tâm đắc như tôi. Hai câu thơ nói được cái tâm trạng thường có ở con người, ghim vào lòng ta bằng hai biểu cảm tương phản “đất ở và “đất đã hoá tâm hồn”, câu trên dẫn dụ ta bằng một ý hiển nhiên, câu dưới là một sự bùng nổ của cảm xúc và tứ thơ.

Gần 1200 năm trước, Giả Đảo đời Đường bên Trung Quốc đã có một bài với cảm xúc và cấu tứ na ná thế, ai đọc thơ Đường đều nhớ mãi, rung động mãi:

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương

Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương

Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ 

Khước vọng Tinh Châu thị cố hương

(Tản Đà dịch:

Tinh Châu đất khách trải mươi hè

Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê

Qua bến Tang Càn, vô tích nữa

Tinh Châu ngoảnh lại đã thành quê)

Giả Đảo thời trẻ đã từng đi tu, rồi hoàn tục, đi thi nhiều lần mới đỗ, lúc làm quan thì bị dèm pha, bị biếm đi những chốn xa xôi. Thân phận ông thế thì ông coi những nơi ông ở chỉ như đất khách, là chuyện dĩ nhiên, ấy vậy mà đối với cái đất khách Tinh Châu, khi vừa rời xa, ông liền cảm thấy nó đã thành “cố hương”. Tâm trạng này trong đời sống bình thường ai cũng có đôi lần trải nghiệm, và sau Giả Đảo gần 1200 năm lại được nói hộ một lần nữa qua hai câu thơ Chế Lan Viên.

Thế rồi, sự tâm đắc buổi đầu của tôi đối với hai câu thơ Chế Lan Viên dần dần không còn nữa, khi đời sống tôi đã khác, tâm trạng tôi đã khác, trải nghiệm của tôi đã khác, ấy là khi tôi vào chiến trường khu 5, chiến trường Quảng Nam, thời chống Mỹ. Tại chiến trường, ở bất cứ vùng đất nào, tôi cũng mang tâm trạng “đêm nằm, năm ở”. Mà có khi chả đến một đêm. Chỉ vài giờ, thậm chí vài phút, tấp vào núp một căn hầm nào đó cho qua trận pháo, qua cơn sốt, được một bà mẹ, một cô em nào đó rót cho bát nước, được một bàn tay mẹ, bàn tay em đặt lên vầng trán nóng như lửa với tiếng thở dài đầy lo lắng. Cho nên, không một vùng đất nào khiến tôi cảm thấy chỉ là đất khách,đất ở, mà bất cứ nơi nào tôi đặt chân tới, ngay phút đầu đã cảm thấy “đất hóa tâm hồn”. Bởi bất cứ giờ phút nào, ở bất cứ nơi nào cũng có những con người cưu mang đùm bọc tôi, sẵn sàng đổ máu bảo vệ tôi, và chính tôi bất cứ giờ phút nào cũng có thể thình lình ngã xuống nằm lại đó vĩnh viễn.

Tự nhiên, hai câu thơ Chế Lan Viên rung lên trong tôi một cảm xúc khác, một tình tự khác, gần như ngược lại, cũng với nhạc điệu ấy:
Khi ta ở đâu chỉ là đất ở

Máu thiêng rơi đất trĩu nợ tâm hồn.
Đất Việt của tôi, thời tôi, chứ không phải đất Tàu, thời Giả Đảo.
(Đà Lạt, 2/10/2003)

CHẾ LAN VIÊN
BÁNH VẼ


Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi
Họ cũng ngồi thôi
Nhai nhồm nhoàm
(“Prométheé 86”, Văn học và Dư luận, 8/1991)


BÙI MINH QUỐC

CẢM TÁC TRONG ĐÊM ĐÀ LẠT

(Nhân đọc thơ “Bánh vẽ” của Chế Lan Viên)


Mấy thi sĩ thế kỷ này nhồm nhoàm nhai bánh vẽ

Mà thương vay những thế kỷ vắng anh hùng*

Họ thầm biết trên đầu mình có kẻ

Tay vẽ bánh cho người, mồm nhai thứ thiệt ung dung


Anh ngồi nhấm lai rai, dẫu biết thừa bánh vẽ

Bởi sợ bị đưa ra khỏi bữa tiệc linh đình

Cái bữa tiệc tù mù mà nức lòng đáo để

Chúc tụng tía lia và ăn uống thật tình

 

Cốt một chỗ ngồi thôi để có ngày được nhai thứ thiệt

Mà kiên trì nhai bánh vẽ rã quai hàm

Thứ thiệt mãi xa vời, chỉ rất gần là cái chết

Cái chết này là chết thật hay oan?

 

Tôi rùng mình đọc bài thơ “Bánh vẽ”

Mỗi chữ tạc lên cột số dặm đời

Thể phách đã an hòa cùng đất mẹ

Tinh anh còn lạnh buốt suốt thời tôi.

Đà Lạt 13/9/1991

———

* Chế Lan Viên có câu thơ:

Ôi thương thay những thế kỷ vắng anh hùng

Tiện thể kể thêm mấy chi tiết liên quan:

Sau khi làm xong bài thơ, người đầu tiên tôi gửi để chia sẻ là nhà thơ Xuân Sách, tác giả câu thơ nổi tiếng mà mọi người trong văn giới đều bảo là vẽ Chế Lan Viên: “Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”. Trong khổ thơ đầu, câu thứ 3, khi khởi thảo, tôi viết “Họ đâu biết…” Xuân sách viết thư lại cho tôi, bảo rằng: “Họ biết cả đấy”. Tôi bèn sửa lại: “Họ thầm biết”. Trong khổ thơ thứ hai, câu thứ 3: “Cái bữa tiệc tù mù…”, chữ “Tù mù” là của Xuân Sách cho, chữ của tôi khi khởi thảo là gì, lâu ngày quá tôi quên rồi.

Xin bạn đọc lưu ý tham khảo thêm bài vừa mới công bố của họa sĩ Trần Duy kể những kỷ niệm của ông với cụ Phan Khôi, trong đó có đoạn ghi lại giai thoại cái tủ lạnh của một nhân vật quan trọng có chứa nhiều lưỡi. Chính Xuân Sách đã kể cho tôi nghe giai thoại này và bảo rằng chủ nhân cái tủ lạnh trong giai thoại ấy là Chế Lan Viên. Xin các nhà sưu tầm giai thoại làng văn khảo chứng giùm điều Xuân Sách nói có đúng không.

Bài thơ “Cảm tác…” trên đây tôi đã gửi nhiều lần cho nhiều báo, nhất là báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn, nhưng chưa báo nào chịu đăng. Hy vọng một ngày không xa nữa, nhờ nỗ lực chiến đấu chung của toàn thể văn giới Việt Nam cho tự do báo chí tự do xuất bản trên đất nước ta, những bài như “Đi tìm cái tôi đã mất của Nguyễn Khải cùng các bài liên quan của Vương Trí Nhàn, Nguyễn Huệ Chi và bài thơ của tôi sẽ được chính thức đăng để đến với các bạn đọc chưa có diều kiện vào mạng internet, và tôi dám chắc rằng khi ấy lượng phát hành các tờ báo có đăng những bài như thế sẽ tăng cao gấp bội.

(Đà Lạt, 20/6/2008) – Bài cũng đã đăng trên talawas 21/6/2008

 


Bài đã đăng của bbt

1 phản hồi/comment

Comments feed for this article

Thanh Thảo ví hội luận này như cái chợ; Thử kiểm lại xem:

1. Đường vào chợ có rất nhiều quảng cáo và biểu ngữ
a. Quảng cáo: là những bài nói thơ là gì và cái gì là thơ thì mọi người đều có tài. (Nghĩa là nói rất hay; nhà nông nói theo nhà nông, nhà giáo nói theo nhà giáo, cũ mới đen đỏ mặn nhạt. Quảng cáo ở đây là kiểu chủ chợ chứ không phải chủ tiệm hoặc chủ hàng.
b. Biểu ngữ: là những lời PHÁN của Khổng Tử, của tượng đá, của triết gia, của nhà thơ to có tiếng có xuất hiện trong các phản hồi.

2. Hàng hóa: trong chợ có lèo tèo vài bài thơ của nhà buôn; nghĩa là đem thơ của mình hay của người khác trưng ra.

3. Người bán: là người nói về sản phẩm của chính mình cho khách nghe. Sản phẩm ở đây là các bài thơ chứ không phải các bài quảng cáo thơ. Tới giờ này có mấy người bán xuất hiện?

4. Người mua: đa số thuộc dạng chồng chê vợ trách con làm ngơ đi lang thang đầu đường xó chợ-thơ mà bù khú những chuyện thất chí lẫn thích chí của mình với nhau. Người mua thật sự rất hiếm, đó là những lời yêu cầu thi sĩ hãy nói hãy giải thích thơ của chính mình. Chẳng có một lời đáp lệ, chắc có lẽ toàn hàng giả.

Gần tàn chợ rồi, hy vọng đừng ai quảng cáo và giăng biểu ngữ nữa. Hy vọng người mua sẽ gặp được người bán.

Vài hàng góp ý cho ban tổ chức chợ làm tổng kết để trình sổ sách với lịch sử văn chương.

Khải Minh