Chân Phương: Nhà thơ qua quang tuyến

Chân Phương
 

Nhà thơ qua quang tuyến

                                                                                         

Để đóng góp kịp thời cho Hội Luận Văn Học Việt Nam sau đây là một bài viết còn trong dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, phần lớn đã được trình bày trước thính giả vào “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College, ngày 10/5/2008.


Vì sống với ngôn từ như là cứu cánh và chất liệu sáng tạo, có thể nói nhà thơ là chủ thể có ý thức cao nhất trong giới văn nghệ nói chung. Không là một cái Tôi biệt lập mà là sự tổng hòa năng lực nơi giao thoa, hội ngộ, tranh biện của nhiều chủ thể và nhân cách trong quá trình sinh thành và thăng hoa. Tóm lại, nhà thơ không là một cá tính định hình bất biến mà là một DỰ ÁN CAO CẤP của BIỆN CHỨNG NHÂN TÍNH.

Tưởng tượng một cái máy siêu quang tuyến vừa được phát minh cho giới lý luận văn học soi rọi các phần cấu tạo vô hình của nhà thơ. Trong lăng kính tối tân ấy sẽ hiện ra ba kích thước: 1- THI CÔNG, 2- THI SĨ, 3- THI NHÂN. Tôi xin lần lượt phác họa các điểm này.

I. THI CÔNG

THI CÔNG là đặc điểm dễ thấy nhất. Lê Đạt từng gọi hắn là phu chữ. Cũng như nhạc công, họa công, thủ công… – thi công là kẻ có tay nghề cao về mặt thi pháp với ngữ văn, ngày đêm ăn nằm với các loại sách từ điển, ngữ pháp, phong cách học. Không chỉ sống chết với Tiếng Mẹ, hắn còn phải  khảo cứu Tiếng Bà (cổ văn, ngữ nguyên học, dân tộc học ngôn ngữ…). Chưa đủ, hắn chịu khó học ngoại ngữ và làm dịch thuật, đặc biệt là tuyển dịch thơ nước ngoài (trong lịch sử thi ca hiện đại các nhà thơ lớn phần nhiều cũng là những dịch giả lớn). Đây còn là một bí quyết của nghề thơ vì người nào không rành ngoại ngữ sẽ chẳng am hiểu được tiếng mẹ đẻ của mình (Goethe).

Thời đại toàn cầu hóa buộc các phu chữ phải đi xa hơn truyền thống. Bên cạnh các thi luật và thể thơ Đông Á (lục bát, hài cú, từ phú, niêm luật Hán-Việt) họ có thể học hỏi ở pantoum Mã Lai hoặc ghazal Á Rập… Thi học phương Tây là một kho tàng còn chờ chúng ta khai phá với hàng núi tài liệu biên khảo công phu từ Phục Hưng đến nay. Nhưng cái thần của tiếng Việt với ngữ điệu (prosodie) xuyên thời gian của nó vẫn tiềm tàng trong thành ngữ, trong ca dao tục ngữ, hay hiện hình sinh động trong khẩu ngữ thường ngày. Cái mà nhiều nhà thơ như Hoàng Hưng vẫn gọi là nhạc tính của tiếng Việt thật ra chính là ngữ điệu. Vì phần lớn các nhà thơ Việt Nam đã quay lưng với vần điệu trong cuộc phiêu lưu phá thể luật của thơ tự do và thơ văn xuôi nên công việc tìm hiểu cặn kẽ về ngữ điệu tiếng Việt là yêu cầu sống còn. Thiếu phần tri kiến này chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ của một nền thơ của người câm điếc! Người làm thơ không thể dốt nhạc vì thi ca với âm nhạc chia  chung một linh hồn: Nhịp Điệu (rythme); cũng như không thể dốt hội họa vì lẽ thi trung hữu họa. Nói gọn như Ezra Pound từng khái quát: người làm thơ phải nắm được hai lợi khí của nghệ thuật thi ca là melopoiea (thi pháp của nhạc điệu) phanopoiea (thi pháp của hình tượng).(1)

Chúng ta vừa bàn qua công việc và nỗi đam mê của đám phu chữ trong việc rèn luyện tay nghề với đồ nghề. Hơn ai hết những vị này làm đúng theo câu phán của Mallarmé: Thi sĩ làm thơ với chữ, không làm thơ với ý. Nhưng nếu coi lời dạy này là chân lý duy nhất của nghề thơ thì nguy to! Và lại rơi vào tật giản lược hóa quen thuộc của kẻ lười suy nghĩ. Đâu đó trong cuốn Đấng Tiên Tri, Kahlil Gibran đã cảnh giác rằng: Nếu bị giam trong cái lồng chữ, tư tưởng – vốn là con chim của không gian – vẫn có thể dang mở đôi cánh của nó nhưng sẽ không thể bay đi.  

II. THI SĨ

THI SĨ là kẻ sĩ, đúng theo cái nghĩa sâu xa mà văn hóa Á Đông đã trao cho. Vì con người theo Aristote là sinh vật chính trị nên thi sĩ không thể đứng ngoài lịch sử hay quay lưng với xã hội và thế sự. Vào thời đại của lũ sát nhân (Rimbaud) bất kể ai còn lương tâm cũng phải bất bình và tìm cách ngăn chặn hoặc ít ra không đồng lõa với tội ác. Trong hơn hai thế kỷ qua phần đông các thi sĩ trên quả đất đã đứng về phía những nạn nhân, đã gánh chia số phận của loài người bị chà đạp và lên tiếng.

Mi được thoát chết không phải để mà sống

Mi không có nhiều thời giờ mi phải làm kẻ chứng nhân

(Zbigniew Herbert)

Độc giả Việt Nam không lạ gì với các thi hào như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát… đã từng phất cao lá cờ nghĩa khí chống cường quyền phong kiến. Sau các cuộc cách mạng tư sản và vô sản ở Âu-Mỹ lại xuất hiện một nhân cách mới trong đời sống văn hóa chính trị: người THI SĨ-CÔNG DÂN mà Hugo, Whitman, Akmatova, Mandelstam, Brecht, Aragon, Ritsos, Hikmet, Milosz, Neruda, Cardenal… là một số các gương mặt lớn đại biểu. Giữa công đường của lương tâm hay trước các vụ án của lịch sử các thi sĩ-công dân đã hầu tòa, vừa lắng nghe âm thanh và cuồng nộ vừa làm chứng bằng những bài thơ.

Cũng như các sinh vật chính trị hiện đại khác, người thi sĩ hôm nay có ý thức cao về tính liên đới sống còn giữa mọi công dân và những cộng đồng người. Bên cạnh bạo lực man rợ của chiến tranh với lò sát sinh và trại cải tạo chúng ta đừng quên bạo lực tinh vi của kinh tế và ý hệ. Có biết bao trẻ em chết đói chết bệnh mỗi ngày trên trái đất vì sức mạnh vô địch của thị trường tự do? Chẳng lẽ mối quan tâm lớn nhất của nhà thơ là sự cạnh tranh của mass media và bestsellers? Octavio Paz có nói một câu: Chủ yếu mang tính xã hội thơ phục hồi lại cộng đồng từ nền tảng. Cũng như văn chương nói chung, thơ có thể là chất keo nhân văn kỳ diệu hàn gắn lại các chấn thương của tình người. Điều gì sẽ đến nếu các nhà văn nhà thơ lơ là với trách nhiệm này? Mời các bạn đọc đi đọc lại bài thơ sau đây:

CÁI CHẾT CỦA MỘT CÔNG DÂN

 

Không phải cái chết đột ngột

 

Không phải cái chết của người lính

bị một cú đấm đại bác

té bật ngửa nhìn trời

Cũng không phải cái chết của lão nông dân

yên lặng trở vào ruột đất

như trở lại mái nhà

 

Một ngày kia

một ngày như bao nhiêu ngày

y hệt giống nhau

tương tự hai giọt nước

dưới ánh mặt trời

hay giữa đêm khuya

bắt đầu cơn hấp hối

Không phải một cái chết đột ngột

 

Ngày lại ngày

khi mi không còn

biết yêu biết ghét

khi mi khám phá được cách sống chừng mực quí giá

cơn hấp hối bắt đầu

Bài thơ này thi sĩ Ba lan Tadeusz Rósewicz cho in năm 1952. Ít lâu sau hai chữ yêu, ghét lại xuất hiện tại Hà Nội,

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

(Phùng Quán)

Sự rõ ràng của yêu ghét là thước đo chính xác của nhân tính vừa là cán cân của ý thức xã hội. Thì ra các nhà thơ không cần ngôn thuyết rắc rối về các môn luân lý hay chính trị; tình cảm chân thật vẫn là cái gốc muôn thuở của đạo làm người.

III. THI  NHÂN

                                              Comment vivre sans inconnu devant soi? 

(René Char)

Sau cái Đức của thi sĩ tôi xin mạn đàm về cái Đạo của thi nhân. Từ xa xưa cổ đại các nhà tư tưởng Đông Tây như Khổng tử, Platon… đã bàn luận và nêu ra nhiều câu hỏi về thơ. Đến giai đoạn Phục Hưng rồi Lãng Mạn, các tranh luận triết học hay thẩm mỹ về thi ca lại sôi nổi diễn ra trong tác phẩm của Vico, Diderot, Novalis, Coleridge… Vào thời hiện đại Heidegger khám phá trong các bài thơ của Hoelderlin và René Char nguồn cội siêu việt của tiếng nói tâm linh chống lại nền văn minh kỹ thuật và sự sùng bái lý tính như công cụ vạn năng (raison instrumentale) ngày càng tha hóa con người: như thủy triều xuống thế gian càng lúc càng mất hút bởi chúng ta tăng phần tư duy và bớt ngắm nhìn (Gilles Hénault). Không thể tóm lược trong vài trang tham luận vấn đề hệ trọng của thi ca và tư tuởng! Theo chỗ hiểu biết của tôi “Thiên chức của thi nhân nơi trần thế?” và “Yếu tính của thi ca?” là hai câu hỏi chủ yếu vẫn trở đi trở lại vì chưa tìm được lời đáp thỏa đáng.(2)

Nếu có người yêu cầu tôi đưa ra một khái niệm hay định nghĩa về thơ tôi sẽ né tránh bằng cách niêm hoa vi tiếu của Bồ tát hoặc mượn câu bất khả đạo bất khả danh của Đạo gia. Nếu ai đó không chịu buông tha và tiếp tục gặng hỏi về nhà thơ, tôi đành phải lật mấy trang sổ tay riêng tư để chép ra điều suy nghiệm này: Mang trên đầu hào quang của Số Không, thi nhân là kẻ suốt đời bị Số Một ám ảnh.

Số Một trước tiên là bản sắc độc đáo của nhà thơ qua những bài thơ có một không hai. Nhưng Số Một trên hết là gạch nối hữu cơ của Tam Tài – Thiên-Địa-Nhân, là thiên địa chi tâm mà Lưu Hiệp đã khắc họa ngay chương đầu trong Văn Tâm Điêu Long để vinh danh con người, nguồn gốc của ngôn ngữ với văn chương. Đồng thời cũng là chữ Nhất của trực giác Á Đông: vạn vật đồng nhất thể; là mạch thiêng nuôi các thi nhân-đạo sĩ như Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Mạnh Hạo Nhiên… Sau cùng hai từ đồng nhất khiến ta liên tưởng đến thiên hạ đại đồng, giấc mơ bốn bể một nhà của không ít thi nhân,

Vì nhà ta mở toang, cửa không then khóa

Và các tân khách vô hình tự tiện vào ra.

(Czeslaw Milosz)

Còn Hào Quang của Số Không? Đây vừa là tư tưởng nhà Phật vừa là triết học hiện đại (Sartre, L’Être et Le Néant). Nhưng thi nhân đến với nó không bằng phép thiền định hoặc tư biện kiểu hiện tượng luận (mise en parenthèses, bracketing) lột dần các lớp vỏ ngoài của sự vật để tìm cốt lõi tự tính (noumena). Nhà thơ sống chết đến cùng trong mê trận sắc tướng để trải nghiệm các lẽ tan hợp hưng vong trong máu thịt, ngậm trái vú Maya chờ mọc răng học nói (C.P.). Trước khi ông gặp tư tưởng nhà Phật, Mallarmé từng tâm sự rằng quá trình trực diện lâu năm với chữ và im lặng đã giúp nhà thơ tự mình ngộ được tính Không. Kinh nghiệm này cũng xảy ra với các nhà thơ lớn của thế kỷ 20 như Artaud, Daumal, Paz hay Juarroz… Khi vũ khúc choáng váng của các mặt gương đã đánh lạc hướng mọi ngữ điệu với dụ ngôn, cái còn lại chính là trang trắng – poésie purevia negativa –

Hình dung sắc tướng, chụp bắt thần tư là giấc mơ đã cũ

Sáu con rùa kéo thư án về đâu?

(C.P.)

Sau cái chết của các thần linh và sự phá sản của mọi tín điều thế tục con người như  cá mắc cạn trên sa mạc. Trước khi triết học hiện sinh lập thuyết ồn ào, nhiều nhà thơ đã đối diện với cái Phi Lý (l’absurde); Tôi chẳng qua là con mắt ngó vào tròng mù ghê rợn của sự vô nghĩa (Ekelund). Trớ trêu hơn nữa là sự tiến bộ chóng mặt của khoa học, càng soi sáng những bí mật của vũ trụ càng cho thấy sự nhỏ nhoi buồn cười của hạt bụi Địa cầu giữa bao nhiêu tỉ thiên hà tinh đẩu! Không còn huyền thoại, không còn tôn giáo, chẳng lẽ trạm cuối của chuyến hành hương nhân loại là Siêu Thị? Và sản xuất để tiêu thụ/tiêu thụ để sản xuất là lẽ sống còn của mọi chúng sinh?

Vừa phản kháng chống các thế lực với âm mưu phi nhân nhà thơ còn gánh vác câu hỏi đời đời không lời giải của thân phận con người giữa vô minh. Như Sisyphus vần tảng đá quẩn quanh, sự kháng cự lặng lẽ và vô vọng ấy chính là ngọn lửa nuôi dưỡng tâm linh và sáng tạo. Sờ soạng đi trong cõi nghịch lý như một ẩn số, thi nhân khước từ mọi bản đồ với mũi tên chỉ đường quen thuộc. Là du mục và hành giả, là di dân chung thân với tấm thẻ tị nạn siêu hình, thi nhân là trích tiên rời xa mọi miền đất hứa không ngừng truy tìm TERRA INCOGNITA.

Đàn chim không quốc tịch bay qua Vạn lý trường thành

Áng mây giông chẳng dừng lại trước các trạm hải quan

 

Địa chỉ thi nhân là đường chỉ tay hoang vắng…

(C.P.) 

 

TẠM KẾT

Người xưa mượn các giai thoại lý thú và thâm trầm để bàn về thi ca. Không được là thi thoại, bài viết này có nguy cơ biến làm thi thuyết (discourse poétique) dông dài và nặng nề.

Luận về Đạo của thi nhân, tôi còn có thể miên man suốt đêm với những trích dẫn chép kín sổ tay; chẳng hạn của Jean de Boschère về nhà thơ, chứng nhân lớn của thời gian và thực tại, hoặc nhận định sau đây của Charles Simic, nhà thơ kêu gọi triết gia trong mỗi chúng ta quan tâm đến thế giới qua sự hiện diện đầy nghi vấn của nó. Nhưng tôi xin nhường micro và diễn đàn cho các ý kiến khác trong Hội Luận Văn Học Việt Nam ở các ngày cuối cùng này. Hi vọng máy siêu quang tuyến trên kia sẽ giúp các bạn làm thơ phần nào chiếu rọi được nội tâm và cốt cách, thấy rõ các sở trường cũng như yếu điểm bản thân để tiếp tục chân cứng đá mềm trên hành trình gian truân của kẻ lao công khốn khổ – horrible travailleurs (Rimbaud) – đi khai hoang và mở rộng các bờ cõi của ĐẤT THƠ.

 

Boston, 20/6/2008

Chân Phương


CHÚ THÍCH

1– Tác giả bài tham luận này có viết một vài tùy bút và biên khảo về kinh nghiệm làm thơ hay về nghệ thuật thi ca. Bạn đọc có thể tham khảo trên internet các bài Nghiệp Thơ; Vũ Điệu của Lời; và Thơ-Khoảnh Khắc Sinh Thành. (Website: amvc.free.fr).

2– Hai vấn đề này là trọng tâm của học thuật và lý luận về thơ ở Âu Mỹ từ khi Heidegger phát hiện được Hoelderlin. Các khảo cứu của Harold Bloom cũng xoáy vào yếu tính thi ca. Một tài liệu đáng chú ý là Wozu, À Quoi Bon, Why Poets in a Hollow Age?, Paris, Le Soleil Noir, 1978, in lại các tham luận, bài phỏng vấn của khoảng 160 nhà thơ và nghệ sĩ quốc tế về vai trò, thiên chức của thi nhân vào thời hiện đại. Trung Tâm Quốc Tế về Thi Ca MARSEILLE có tổ chức một hội thảo chuyên đề về thi ca và triết học vào tháng 10-1997 và in lại các tham luận trong Poésie & Philosophie, Marseille, cipM, 2000. Đầu năm 2000 tạp chí EUROPE cho ra mắt số chủ đề Littérature & Philosophie để khai mạc thiên niên kỷ mới. Các sự kiện văn học vừa kể – giữa nhiều sinh hoạt văn hóa khác có liên quan đến thơ ở phương Tây – tiêu biểu cho sức thu hút của thi ca như một hoạt động tư tưởng cao cấp ngang hàng với triết học. Đề tài này cho đến nay hình như vẫn còn khá xa lạ với giới cầm bút Việt Nam, dù trước đây Bùi Giáng, Tuệ Sĩ, Phạm Công Thiện… từng viết nhiều trang khảo luận giá trị về triết và thơ.


Bài đã đăng của Chân Phương

15 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Thật lạ lùng! Tôi đang là nghiên cứu sinh về Văn Chương tại English Department, Boston College, và tôi đang ở nội trú ngay trong trường này, nhưng không hề biết đến “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College, ngày 12/5/2008. Ngày hôm đó, Thứ Hai, 12/5/2008, tại Boston College chỉ có 3 sinh hoạt nghệ thuật như sau:
1. “Neenan, Have You Read a Good Book Lately?” mở cửa từ lúc 8 giờ sáng, tại O’Neill Library Lobby.
2. “Fighting Irishmen: Celebrating Celtic Prizefighters 1820 to Present” mở cửa từ lúc 9 giờ sáng, tại Burns Library.
3. “Tree of Paradise: Jewish Mosaics from the Roman Empire” mở cửa từ lúc 11 giờ sáng, tại McMullen Museum.
Trong cả tháng 5/2008, ở Boston College chỉ có 3 sinh hoạt văn chương như sau:
1. “Reading for Pleasure – Book Discussion”, Thứ Tư 14/5/2008, lúc 12 giờ trưa tại O’Neill Library, Room 413. Hôm đó, người ta đọc cuốn A Thousand Splendid Suns của Khaled Hosseini. Sinh hoạt này do Romance Languages Department tổ chức.
2. “Hot off the Press: Meet Boston College Authors”, Thứ Hai 19/5/2008, lúc 1 giờ trưa tại Boston College Bookstore, giới thiệu Thomas O’Connor, tác giả cuốn Ascending the Heights: A Brief History of Boston College; James O’Toole, tác giả cuốn The Faithful: A History of Catholics in America; Clare Dunsford, tác giả cuốn Spelling Love with an X; James Smith, tác giả cuốn Ireland’s Magdalen Laundries and the Nation’s Architecture of Containment; Robert Faulkner, tác giả cuốn The Case for Greatness: Honorable Ambition and Its Critics; Ben Birnbaum, chủ biên cuốn Take Heart: Catholic Writers on Hope in Our Time and Founding Fathers: Six Boston College Presidents, and the University They Built.
3. “Conversations With… Series”, Thứ Ba 20/5/2008, lúc 7giờ 30 tối tại Walsh Hall, do Foundation for Children’s Books tổ chức. Đêm ấy, nhóm New England Voices đọc các tác phẩm mới viết cho thiếu nhi.
Boston College là một trường đại học của dòng Jesuit. Trường này không lớn, chỉ có chừng hơn 8000 sinh viên undergraduate và gần 4000 sinh viên graduate. Hầu như mọi sinh hoạt văn học nghệ thuật trong trường đều được thông báo rõ ràng, và ai cũng biết. Vì thế, tôi cảm thấy rất lạ lùng là mình không hề biết đến “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College, ngày 12/5/2008. Có lẽ đêm đọc thơ ấy được tổ chức tại một địa điểm bí mật nào đó cho một nhóm khán giả bí mật nào đó chăng? Giả sử ông Chân Phương là cựu sinh viên của Boston College, thì đêm 12/5/2008, ông có thể đến tại Putnam Room trong Alumni House, Boston College, để tham dự một cuộc thảo luận về cuốn The Memoirs of a Survivor của Doris Lessing, và truyện ngắn The Yellow Wall-Paper của Charlotte Perkins Gilman. Giáo Sư Judith Wilt, Newton College Alumnae Chair in Western Culture, chủ trì sinh hoạt này. Ngoài sinh hoạt này, đêm 12/5/2008 ở Boston College không có sinh hoạt văn chương nào khác nữa.

Thomas Lê

Chào bạn Thomas Lê,

Buổi đọc thơ được Giáo Sư Trần Thành tổ chức trong khuôn viên của Phân khoa Social Work vào đêm Thứ Bảy, 10/5/2008. Xin lỗi độc giả vì tôi đã gõ máy lộn số ngày.

Chân Phương

(BBT: Bài trên trang Hội Luận sẽ được sửa lại theo ngày đúng).

Nhà thơ trước hết cần phải CHÍNH DANH

Ông Chân Phương sửa lại ngày 12/5/2008 thành ngày 10/5/2008, và cho biết là Giáo Sư Trần Thành tổ chức “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” trong khuôn viên của Phân khoa Social Work, thuộc Boston College. Điều này khiến tôi có thêm một số thắc mắc:
* Giáo Sư Trần Văn Thành (đúng tên tiếng Việt), PhD, University of Texas at Arlington và Post-Doctoral, University of Michigan, Ann Arbor, là chuyên gia nghiên cứu về các công tác phục vụ xã hội trong lãnh vực Sức Khoẻ và Bệnh Tâm Thần của người di dân. Vậy ông ta tổ chức “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” để làm gì? Cho đối tượng nào?
* Phân khoa Social Work tọa lạc tại McGuinn Hall, ở Chestnut Hill Campus, đường Beacon St. Sinh viên đã thi kỳ cuối từ ngày 1 đến ngày 6/6/2008. Sau đó sinh viên đều nghỉ học. Phân Khoa Social Work chỉ mở cửa thêm ngày Thứ Tư 7/5/2008 để đón tiếp các sinh viên học khóa hè, sau đó họ đóng cửa, ngưng làm việc. Đến Thứ Ba 13/5/2008 thì họ mới mở cửa trở lại cho các lớp học hè bắt đầu. Như thế thì hiển nhiên là “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” (ngày 10/5/2008) KHÔNG ĐƯỢC TỔ CHỨC MỘT CÁCH CHÍNH THỨC vì không còn ai ở trong trường.
* Có lẽ Giáo Sư Trần Văn Thành cho ông Chân Phương MƯỢN (hoặc MƯỚN) một phòng để ông Chân Phương nói chuyện thơ với một số người Việt Nam nào đó.
* Có lẽ ông Chân Phương nói và đọc thơ bằng tiếng Việt Nam và không hề có các khán giả người Mỹ tham dự.
Ở đầu bài luận, ông Chân Phương viết “đây là một bài viết còn trong dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, phần lớn đã được trình bày trước thính giả vào “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College…” Tất nhiên khi viết như vậy ông Chân Phương dư biết độc giả người Việt Nam trong nước hoặc ở xa rất dễ dàng hiểu lầm là “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” đã được Boston College chính thức tổ chức, và ông Chân Phương nói chuyện và đọc thơ trước một cử tọa hàn lâm người Mỹ chuyên về văn chương và nghệ thuật thơ ca. Lối tự giới thiệu mập mờ như thế này thì không CHÍNH DANH vì ông Chân Phương đưa ra một cái MISLEADING INFORMATION để tự làm tăng uy tín của mình. Đây là một cái bệnh khá phổ biến của người Việt trong thế hệ của ông Chân Phương. Tôi thấy có những nhà thơ người Việt đã đi mướn phòng trong các trường đại học để đọc thơ cho dăm ba người bạn nghe chơi, rồi sau đó đi rêu rao là đã từng “đọc thơ tại các trường đại học của Mỹ. Các “chính trị gia” người Việt ở Mỹ thì thường mướn một cái phòng nào đó trong Quốc Hội Mỹ để hội họp chuyện chính trị cộng đồng với một nhóm người Việt. Sau đó, họ đưa tin trên báo là họ đã “diễn thuyết tại Quốc Hội Mỹ”. Thật là quá buồn cười.
Ông Chân Phương viết: “Các nhà thơ không cần ngôn thuyết rắc rối về các môn luân lý hay chính trị; tình cảm chân thật vẫn là cái gốc muôn thuở của đạo làm người.” Thưa ông, tình cảm chân thật thì cần CHÍNH DANH chứ không cần những kỹ xảo tạo MISLEADING INFORMATION để làm tăng uy tín của mình.

Thomas Lê

Chào anh Thomas Lê,

Tôi đã thông tin khách quan cho anh biết ngày giờ và người tổ chức chính thức buổi đọc thơ là GS Trần Văn Thành, Chủ nhiệm trường Graduate School of Social Work tại Boston College, cũng có bút danh là Trần Thu Miên, một thi sĩ có sáng tác in trong các tạp chí hải ngoại.

Dĩ nhiên đây là một buổi nói chuyện và đọc thơ bằng tiếng Việt trong giới văn nghệ và cộng đồng người Việt ở Boston, không nhằm vào một cử tọa hàn lâm người Mỹ (Tại sao lúc nào chúng ta cũng bị ám ảnh bởi cái nhìn của người ngoại quốc? Hoặc là cần họ để nâng uy tín cho mình?) Tôi và các bạn văn nghệ Việt Nam ở Boston rất quan tâm và tự trọng trong việc khuyến khích, nuôi dưỡng bầu khí sinh hoạt văn nghệ lành mạnh trong cộng đồng người Việt, không riêng gì ở Boston. Anh tỏ vẻ là một sinh viên thông minh và có khả năng truy tìm thông tin độc lập. Ngoài ra anh còn là sinh viên của Boston College, tại sao anh không tìm cách liên hệ với GS Trần Văn Thành để hiểu rõ sự tình? Là một trí thức trẻ anh không nên hấp tấp suy diễn, dùng những từ nặng nề, như “tự giới thiệu mập mờ”, “MISLEADING INFORMATION”, v.v… Tôi sẵn sàng gặp mặt anh tại Boston để giúp anh thấy được tình cảm chân thật và mức độ chính danh của tôi. Giữa hai người đồng hương chúng ta sẽ trao đổi thân tình và thoải mái về câu chuyện này, nếu cần tôi sẽ mời GS Trần Văn Thành tham dự.

Cuối cùng tôi có lời đề nghị với anh: Chúng ta nên nhã nhặn với các bạn tham gia HỘI LUẬN VĂN HỌC này – cũng là một chốn lịch thiệp để người Việt bàn luận về các đề tài văn học với nhau – không nên lấn chiếm diễn đàn vì mấy chuyện bên lề không liên quan gì đến trọng tâm (nội dung) của Hội Luận. Nếu anh Thomas có chút thời giờ, xin mời anh đọc và góp ý về các bài tham luận của tôi và của các cây bút khác trên diễn đàn này.

Chân Phương

Kính chào tác giả Chân Phương và ông Thomas Lê,

Qua các ý kiến của nhị vị, tôi thấy như vậy là vừa đủ để người đọc biết rõ buổi đọc thơ tại trường Boston College thuộc thành phố Newton, tiểu bang Massachusetts. Riêng với tác giả Chân Phương, tôi có gặp ông vài lần nhưng không quen; còn Giáo sư Trần Văn Thành, tức thi sĩ Trần Thu Miên, thì tôi có gặp giáo sư vài lần; Cả hai vị này tôi luôn kính trọng vì tài năng cùng đức tính của họ.

Nếu sự việc đọc thơ ở đâu khác, và có ý kiến của ông Thomas Lê, có lẽ tôi phải suy nghĩ lại là sự việc có cùng không. Nhưng với nhân vật thứ ba tham dự vào, tức Giáo sư Trần Văn Thành, thì tôi tin đây là buổi đọc thơ của tác giả Chân Phương là có thật, vì Chân Phương có viết gì thì viết nhưng chắc ông cũng không dám “cả gan” mà viết về một nhân vật có thật giữa thành phố Boston như Giáo sư Trần Văn Thành vào chuyện không có.

Riêng Giáo sư Trần Văn Thành, vào khoảng tháng 9 năm 2000, lúc ông còn làm việc ở trường Boston College, ông cũng có tổ chức buổi nói chuyện vế thơ văn hải ngoại tại đại học này cho sinh viên và cộng đồng người Việt Boston nghe. Diễn giả chánh lần đó là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí VĂN ở California. Lần này tôi có đi nghe buổi thuyết trình của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Nhắc thế để thấy Giáo sư Trần Văn Thành, vốn là một người yêu văn học Việt Nam nên ông luôn quan tâm tổ chức các buổi nói chuyện về các đề tài liên quan đến văn học nghệ thuật. Sau đó được biết ông dời về California. Và mới đây hay tin ông trở lại Boston làm việc và có tham dự buổi giới thiệu thơ của thi sĩ Hoa Văn mà ông là người giới thiệu các thi tập của thi sĩ Hoa Văn trong buổi ra mắt sách vào ngày 08 tháng 6 năm 2008 này.

Tóm lại, với sự chủ trì của Giáo sư Trần Văn Thành, tôi nghĩ buổi đọc thơ của tác giả Chân Phương là có chứ chẳng phải tự ý tác giả dựng lên để quảng cáo mình làm gì. Vả lại, đọc thơ hay không đọc thơ tại trường Boston College hay trường đại học nào khác, kể cả Harvard, với ai đã sống ở Hoa Kỳ này vài ba năm chứ không cần phải vài chục năm rồi, thì những lần đọc thơ như vậy cũng chẳng làm nên tên tuổi gì cho các tác giả lắm đâu.

Cầu chúc nhị vị có một ngày vui trọn vẹn.
Trân trọng,

Minh Nguyện

Người thơ và thơ Toàn Cầu Hóa

Thơ cũng có cái trớ trêu. Thầy mới giảng một bài về người thơ phải thế này thế nọ, giảng chưa xong đã bị trò đem ra giữa chợ bêu riếu. Về điểm này thì quả là Chân Phương hơn Khổng Tử một bậc (Khổng Tử giảng xong mới bị học trò kiêng ra chợ). Chắc sau này cả trò lẫn thầy Chân Phương đều tai tiếng vượt hơn cả cái gì hơn cả vạn biểu tiên sư hay thế sư gì đó.
Anh Chân Phương! Cám ơn anh đã bỏ bóng rổ bóng đá để lên đồng 3 thi (thi công, thi sĩ, thi nhân) khai hóa toàn dân. Em đây dù triết bám đầy mình như ghẻ cũng còn chới với muốn bỏ chạy vì sợ bị điên với các bài anh viết huống chi là các thi sĩ hồn đầy thân đẹp ở đây.

Giờ xin giơ tay hỏi anh một câu hai phần thôi.

Theo anh thế nào là người thơ toàn cầu hóa hôm nay? (Anh đã kê ra một chuỗi gian truân như nhà thơ phải biết dịch, biết họa, biết triết, biết Chân Phương xem ra đã cũ từ hôm qua). Xin anh cho cả chợ xem một bài thơ tiêu biểu tính toàn cầu hóa của anh hay của bất cứ ai. Đừng vất vả quá, nếu anh kiếm không ra thì em cho mượn.
Cám ơn anh một lần nữa sẽ bỏ bóng to bóng nhỏ (càng thông thái bóng càng thích bóng nhỏ) để nổi hứng cùng thơ với mọi người.

Khải Minh

Kính thưa ông Chân Phương và bà Minh Nguyện,

Là một người đang theo đuổi việc nghiên cứu literature, nên sau khi tôi đọc bài thi luận của ông Chân Phương, tôi đã có một số suy nghĩ muốn trao đổi với ông về chuyện thơ. Nhưng tôi thấy ngay đoạn giới thiệu bài viết của ông có information mơ hồ, gây thắc mắc, nên tôi đành phải góp ý trước. Khi điều đó đã sáng tỏ, thì tôi sẽ bắt đầu bàn bạc về nội dung chính.

Ý kiến của bà Minh Nguyện hoàn toàn lạc đề. Hình như bà chưa đọc kỹ những điều tôi nói. Việc cá nhân của bà kính trọng ai, thì hoàn toàn không có liên hệ đến những điều tôi nói. Việc bà tin rằng BUỔI ĐỌC THƠ ẤY CÓ THẬT, lại là điều quá thừa, vì TÔI CHƯA TỪNG KHẲNG ĐỊNH BUỔI ĐỌC THƠ ẤY KHÔNG CÓ THẬT. Tôi chỉ nhận xét về information do ông Chân Phương đưa ra. Tôi gọi đó là MISLEADING INFORMATION, và điều đó dẫn đến sự không CHÍNH DANH. Để làm rõ thế nào là MISLEADING INFORMATION (không phải là FALSE INFORMATION, nhưng cũng không phải là GENUINE INFORMATION) tôi xin nêu ra vài câu làm ví dụ:
1/ “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College: Câu này là MISLEADING INFORMATION, vì nó khiến độc giả ở Việt Nam và nơi xa tưởng rằng buổi đọc thơ ấy do Boston College chính thức tổ chức.
2/ “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College do Giáo Sư Trần Thành tổ chức trong khuôn viên của Phân khoa Social Work: Câu này vẫn là MISLEADING INFORMATION. Độc giả sẽ hiểu rằng buổi đọc thơ ấy diễn ra trong context mang tính hàn lâm, vì người đứng ra tổ chức là một Professor (không rõ là Professor gì, chắc hẳn là Professor về Văn Chương), và địa điểm là một thính đường trong khuôn viên của Phân khoa Social Work. Khi học hàm Professor được sử dụng thì tất nhiên sẽ tạo nên liên tưởng về một context mang tính hàn lâm trong phạm vi học thuật của trường đại học.
3/ “Đêm nói chuyện và đọc thơ Chân Phương” tại Đại học Boston College do nhà thơ Trần Thu Miên tổ chức trong khuôn viên của Phân khoa Social Work: Câu này là GENUINE INFORMATION, vì nó xác định đúng cái scope và context của buổi đọc thơ. Ngoài ra, nó còn bao hàm một cái gratitude của nhà thơ Chân Phương đối với nhà thơ Trần Thu Miên, là người đã đứng ra tổ chức buổi đọc thơ cho nhà thơ Chân Phương.

Tôi lớn lên trong văn hoá Mỹ. Đó là một nền văn hoá mà trong đó người ta tôn trọng sự công bằng, trung thực và luôn luôn acknowledge sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Từ một đêm đọc thơ, cho đến việc xuất bản một cuốn sách, một cuốn phim, người ta luôn luôn không tiếc lời ghi nhận mọi sự giúp đỡ và đóng góp của mọi người liên hệ. Tôi có cảm tưởng là người Việt Nam ít khi muốn acknowledge những điều như vậy. Lớn lên trong văn hoá Mỹ, tôi cũng rất dị ứng với lối phát biểu bất bình đẳng của người Việt Nam thế hệ lớn tuổi. Ông Chân Phương đã sử dụng tuổi tác để nói với tôi như đứng trên cao cúi xuống xoa đầu.
Có lẽ văn hoá Việt Nam ưa cái lối ấy, nhưng trong đời sống ở Mỹ thì cái lối ấy rất kỳ cục. Ông viết: “Anh tỏ vẻ là một sinh viên thông minh và có khả năng truy tìm thông tin độc lập. Ngoài ra anh còn là sinh viên của Boston College, tại sao anh không tìm cách liên hệ với GS Trần Văn Thành để hiểu rõ sự tình? Là một trí thức trẻ anh không nên hấp tấp suy diễn, dùng những từ nặng nề, như “tự giới thiệu mập mờ”, “MISLEADING INFORMATION”, v.v…” Thưa ông, “khả năng truy tìm thông tin độc lập” là một khả năng căn bản mà bất kỳ ai đi học từ tiểu học trở lên cũng đều phải có. Chẳng có gì để nói về khả năng ấy cả. Việc liên hệ với GS Thành, thì không phải là nhu cầu của tôi, vì tôi chưa hề phủ định sự hiện hữu của đêm đọc thơ. Điều tôi muốn nêu lên là đề nghị ông thay vì nói lờ mờ, nên cung cấp GENUINE INFORMATION (như tôi đã ví dụ ở trên).

Với giọng kẻ cả, ông Chân Phương dạy tôi “Là một trí thức trẻ anh không nên hấp tấp…” Thưa ông, đối với tôi, chỉ có “trí thức” hay không, chứ không có “trí thức trẻ” hay “trí thức già”. Vả lại, câu “Là một trí thức trẻ anh không nên hấp tấp…” thì hoàn toàn vô nghĩa, vì “không nên hấp tấp” có thể áp dụng cho bất kỳ ai ở lứa tuổi nào, trí thức hay không. Từ bé đến giờ, tôi chưa từng thấy một ông thầy Mỹ nào nói với học trò: “As a young intellectual, you should not do this, shoud not do that…” Trong xã hội Mỹ này, một phát ngôn như vậy thì rất là kỳ cục.

Sau vài lần trao đổi, tôi nhận thấy có lẽ điều cần nói nhất ở đây là CÓ MỘT SỰ KHÁC BIỆT VĂN HOÁ KHÓ HÀN GẮN giữa lối suy nghĩ, hành xử của những người Việt Nam thuộc thế hệ của ông Chân Phương và bà Minh Nguyện, với những người Mỹ gốc Việt Nam của thế hệ chúng tôi. Thế hệ chúng tôi tin rằng căn bản của cuộc sống là sự bình đẳng, mọi communication giữa con người với nhau phải dựa trên GENUINE INFORMATION, và mọi sự kiện cần được mô tả đúng scope, đúng context và fair. Mọi phát ngôn mơ hồ, dựa trên tuổi tác hay trên cảm tính cá nhân sẽ khó có thể thuyết phục được thế hệ của chúng tôi.

Sau cái comment này, tôi hy vọng sẽ tìm lại được inspiration để bắt đầu bàn bạc trực tiếp về bài viết của ông Chân Phương.

Thomas Lê

Kính gửi Ban Biên Tập trang nhà Hội Luận,

Tôi có vài ý kiến nhỏ sau khi đọc bài viết của Chân Phương, “Nhà thơ qua quang tuyến”.

Tôi đã có dịp nghe bài viết này cũng như nghe anh bạn Ngọc Phong ngâm thơ của Chân Phương tại buổi sinh hoạt thơ nhạc tại McGuinn Hall, Boston College tối thứ Bảy 10/5/2008, do nhà thơ Trần Thu Miên tổ chức.

Thú thật, trong buổi sinh hoạt, tôi nghe thì có nghe nhưng không nắm vững hết ý của bài viết, có lẽ vì còn mãi chú tâm đến chuyện… nghe ngâm thơ và hát. Bây giờ được đọc lại toàn văn trên trang Hội Luận, thật thú vị vì có dịp để đọc kỹ và suy gẫm.

Bài viết tuy ngắn, lại chứa đựng nhiều vấn đề lớn của thơ và việc làm thơ cũng như văn học nghệ thuật nói chung. Tôi thú vị với ba tính cách (hay kích thước/đặc điểm như chữ dùng của Chân Phương) của nhà thơ mà Chân Phương mô tả: thi công tính, thi sĩ tính và thi nhân tính.
Thi công tính chỉ sản sinh ra những người thợ thơ, nghĩa là những người giỏi về mặt thi pháp và ngữ văn, chỉ biết sử dụng ngôn ngữ như một kỹ thuật để làm thơ. Tất nhiên, những bài thơ của họ cũng hay. Nhưng để trở thành một nhà thơ chân chính, nhà thơ cần phải có thi sĩ tính, tức là người biết bày tỏ những tình cảm yêu, ghét của mình, tức là thứ tình cảm chân thật của con người trước bạo lực, bất công và phi nhân tính và hơn hết thảy, phải có thi nhân tính, nghĩa là nhà thơ “vừa phản kháng chống các thế lực với âm mưu phi nhân” vừa “gánh vác câu hỏi đời đời không lời giải của thân phận con người”. Nghĩa là thi nhân phải vươn tới Đạo. Và ở điểm này, nhà thơ gặp triết gia. Nhà thơ biến thành đạo sĩ. Nói cách khác, nhà thơ và đạo sĩ trở thành một. Hay nói một cách khác nữa, đã là nhà thơ, thì nhất thiết phải hướng đến một cùng đích là đạo sĩ.

Thú thì thú nhưng không khỏi giật mình. Thì ra làm nhà thơ khó quá! May mà tôi không phải là nhà thơ, chỉ là người yêu thơ và thích đọc các giải thích (lý thuyết) về thơ để tìm hiểu thêm. Với cái nhìn của một người bình thường, tôi cho rằng: thơ (hay văn) hình thành bằng chữ hay lời (ngôn ngữ); mà chữ thì bị ràng buộc vào nghĩa; nghĩa thì bị ràng buộc vào thực; thực thì bị ràng buộc vào tình/ý. Có tình/ý thì phải được nói ra. Tôi khoái nhận định này của Hàn Dũ người Trung Hoa (768-824): Phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh (Đại phàm vật nào cũng vậy, có gì không được bình thường thì kêu lên). Có cái nói ra (hay kêu lên) thì thành văn, có cái nói ra thì thành thơ, có cái nói ra không thành gì hết, chỉ là những lời biểu cảm thông thường, cũng có cái nói ra thành ngôn thuyết (triết lý, lý thuyết này nọ). Vân vân. Thành thử, đối với tôi, trở thành một “thi nhân” thì quá khó, có lẽ chỉ để dành cho các bực thánh nhân, làm “thi công” cũng chẳng dễ gì, vì có lẽ phải đọc thiên kinh vạn quyển. Vậy thì nếu làm được thơ, tôi xin tình nguyện trở thành thi sĩ để được nói lên cái yêu, cái ghét của mình. Chừng ấy là cũng quá đủ trong giới hạn của một đời người.

Chân Phương bảo nhà thơ “không cần ngôn thuyết rắc rối về các môn luân lý hay chính trị”, mặt khác, “Người xưa mượn các giai thoại lý thú và thâm trầm để bàn về thi ca. Không được là thi thoại, bài viết này có nguy cơ biến làm thi thuyết dông dài và nặng nề”. Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với Chân Phương. Các lý thuyết rắc rối và thảo luận dông dài sẽ không giúp cho ai thành nhà thơ (nếu chưa là nhà thơ như tôi) và cũng chẳng giúp cho nhà thơ nào trở thành nhà thơ lớn. Nhưng chả lẽ có chuyện “làm thơ” mà lại không có chuyện “bàn về thơ”, nhất là trong một diễn đàn như thế này.

Tôi đề nghị Chân Phương, nếu có thể, nên làm sáng tỏ thêm một số điều về thơ mà anh có đề cập đến trong bài viết. Chẳng hạn như, một nhà thơ muốn trở thành nhà thơ lớn (tạm gọi như thế) phải kinh qua một quá trình (gian khổ) từ thi công – thi sĩ đến thi nhân? Hay đòi hỏi cả ba đặc điểm cùng một lúc ngay khi vừa tập tễnh làm thơ? Hay là có ba loại nhà thơ khác nhau, tùy đặc điểm của họ: thi công, thi sĩ hay thi nhân? Nghĩa là thi công mà không thi sĩ hoặc giả thi sĩ mà không là thi nhân? Hoặc làm sáng tỏ thêm một vài ý mà anh đề cập trong bài: “nhà thơ là chủ thể có ý thức cao nhất trong giới văn nghệ nói chung”, nhà thơ là “một dự án cao cấp của biện chứng nhân tính” ma không phải là nhà văn hay nhà nghiên cứu? Hay ai khác?

Mong được Chân Phương chia xẻ phần nào “những trích dẫn chép kín sổ tay” của anh.

Trần Doãn Nho

Thomas hãy quay lại với các vụ này vui hơn:

Hội Luận tới hôm nay đã có hai mắt kiếng. Có nghĩa là thơ đạt đến độ trí thức bề ngoài rồi đó.
Kiếng của Chân Phương (quang tuyến) soi mói nhà thơ.
Kiếng của Khải Minh (phổ tuyến) tạo tuyến cho thơ.

Lại có hai cái bộ tam, có nghĩa là thơ đã đạt đến thiên địa nhân đa giác rồi.

Tam của Chân Phương giống tam tòng tứ quái.
Tam của T.C. Nguyễn giống 3 không của cách mạng.

Thomas hãy… trợn mắt và nổi cơn tam bành lên đi. (Một tay khám cả hai mắt kiếng một tay nắn cả ba góc càn khôn xem thơ có thật là như vậy không?)

Khải Minh

Hỏi mà chơi, ai ơi !
Nghe Trần Doãn Nho hỏi Chân Phương, tôi chỉ thay chữ “nhà văn” thành “nhà thơ”, và câu hỏi vẫn hoàn toàn đáng hỏi: Hay là có ba loại nhà văn khác nhau, tùy đặc điểm của họ: văn công, văn sĩ hay văn nhân? Nghĩa là văn công mà không văn sĩ hoặc giả văn sĩ mà không là văn nhân?

Phần 2 của câu hỏi, tôi mạn phép bạn bè đưa vào scanner (sau khi rọi X-ray) để soi xét kỹ và đề nghị: Hoặc làm sáng tỏ thêm một vài ý mà anh đề cập trong bài: “văn-thi nhân là những chủ thể có ý thức cao nhất trong giới văn nghệ nói chung”, mỗi tác phẩm văn chương đích thực là “một dự án cao cấp của biện chứng nhân tính”?

Nhưng có khác biệt giữa văn nhân và thi nhân không? Thưa rằng có. Thơ như cà phê expresso, chỉ một tách nhỏ là ”phê”. Văn thì phải uống như Coffee loại Second Cup mới đã (ông nhà văn vòng vèo vì sợ không được hiểu). Chưng cất lên, cả expressio lẫn Second Cup đều là cafein, có tác dụng ”đánh thức” những phần sơ cứng của não bộ, vốn dễ… đơn tuyến (vì thế không biện chứng), dễ tin, cả nể, và nhất là dị ứng với những cái mới.

Vài lời trân trọng, và hơi buồn, vì (trời ơi) Hội Luận với chủ đề Thơ đang khởi sắc thì… đành tạm ngưng vào ngày cuối tháng này 30/6. Nhưng đừng có ai khép lại những ”hẹn hò” cho Chủ đề 3 về Phê Bình-Lý Luận Văn học, hai anh Chân Phương và Trần Doãn Nho nhé.

Nam Dao

Trần Văn Thành

Gửi Các Anh Chị Yêu Văn Học Nghệ Thuật và anh Thomas Lê,

Anh Chân Phương gọi tôi chiều qua, lúc tôi đang trên đường từ Canada về, và anh cho tôi biết đến trang nhà Hội Luận Văn Học này. Đây là lần đầu tiên tôi vào “thăm” Hội Luận Văn Học. Thích quá.

Anh Thomas Lê ơi, hôm nào rảnh mời anh ghé thăm tôi tại 302 McGuinn Hall nhé. Tôi mừng lắm khi biết anh đang học tại Boston College. Nếu tôi đi vắng, anh cứ để lại lới nhắn và thế nào chúng ta cũng có dịp gặp nhau.
Tôi rất thích cách suy luận của anh. Một người thông thạo tiếng Việt và Anh như anh quả là hiếm. Mong được đọc các bài bình luận văn học của anh.

Lần tới, khi tổ chức những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam tại Boston College, tôi sẽ cho thông báo rộng lớn hơn.

Thân mến,

Trần Văn Thành

Chú Trần Văn Thành kính mến,

Cháu xin cảm ơn chú rất nhiều. Hôm nào cháu sẽ “đường đột” đến 302 McGuinn Hall để thăm chú. Về việc bình luận văn học Việt Nam thì cháu sẽ cố gắng tham dự và học hỏi. Kính chúc chú nhiều sức khoẻ.

Thomas Lê

Trao đổi của bạn Thomas Lê thật thẳng thắn. Tôi thích cách tư duy của bạn. Chỉ có một điều mong bạn đừng nên quên mất: Văn hóa Mĩ mà bạn hưởng thụ có nhiều tầng bậc, phải đứng ở những tầng bậc khác nhau của nó để mà nhìn ra thế giới và về Việt Nam. (Ví như nước Mĩ đã nói dối như thế nào để băm nát Iraq. Lí do để tiến công Iraq là một sự nói dối trắng trợn, chứ không phải là diễn đạt mập mờ nữa).

Mấy lời của Giáo sư Trần Văn Thành thật sự quí hóa. Nó giải tỏa toàn bộ thắc mắc của tôi từ khi theo dõi cuộc trao đổi này.

Cảm ơn anh Chân Phương bởi những suy tư luôn độc đáo của anh (tôi vẫn thường xuyên ngắm “Ăn mày văn chương” của anh và các bạn hữu). Dẫu vậy, cũng mong anh: lần sau, nếu có ghi chú về một buổi sinh hoạt văn chương nào đó thì mong anh ghi rõ và cụ thể hơn nữa.

Quốc

Góp ý thêm cho Chân Phương

Sẵn anh Trần Doãn Nho đề nghị Chân Phương điều này điều nọ, em cũng góp thêm 3 thi 3 tuyến nữa cho bài viết của anh.
Thi đàn _______ đàn đúm đàn địch đàn bà đàn chim…
Thi liệu _______ liệu hồn liệu xác liệu tìnhThi tuyển______ tuyển tập tuyển tuyến

Thi đàn mới tạo được luồng lẫn sử thơ ca (Lãng mạn, tượng trưng…)
Thi đàn mời các nhà thơ cùng thời tham gia vào một lý thuyết, vào lịch sử, vào cái gì mới hoặc lớn hơn thi sĩ thi nhân của anh.

Thi sĩ thi nhân của anh theo em nghĩ không thể tạo được mẫu số chung để định dạng lịch sử văn chương được. Tại sao?
Thi nhân là cá thể hay tập thể bị cưỡng bức làm thơ đồng phục (trường phái là do thi nhân tự góp sức vào việc chung, xong việc rồi thì lập trường phái khác cao hơn hay hợp thời hơn hoặc chuyển sang trường phái khác hợp với mình hơn).
Thi nhân như Dư Thị Hoàn, quèn quèn thi công như em thì không bao giờ thả hồn tới được trăng sao tinh cầu lãng mạn vì bị đời đì khổ cực quá. Tư duy hiện thực hoặc siêu đổ hiện thực tàn nhẫn là thích hợp nhất.
Thi nhân như thời tiền chiến: thư sinh thuốc phiện, giai nhân… mơ mộng, óng ả… giống như tư duy Lãng Mạn, lý thuyết Tượng Trưng.

Đó là tại sao Thi Đàn đúm đòi hỏi cao hơn Thi Nhân của anh.

Thi đàn ____ đàn bà (nghĩa tốt)

Lấy đàn bà thử đàn ông là chuyện hài nhưng lấy họ thử thi nhân là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Bài thơ em viết 100 trăm câu ngàn từ, những ròng ròng nghệ thuật vậy mà đưa cho chị em nhà họ liếc mắt một cái thôi, chữ nghĩa rụng hết chỉ còn: cơm áo, nhà cửa, shopping.

Mấy lời góp ý mong anh nhận. Nếu anh nhận thì trả công cho em bằng cách cho em trích bài “Thơ, Phút Ngẫu Sinh” của anh trong các bài viết của em.
Tại sao? Tại vì lịch sử thi ca Việt Nam tới giờ này em chỉ biết có hai người đã viết từng bước về cách sáng tác một bài thơ của mình.
Đó là Quách Tấn và Chân Phương.
Và nhiều cái tại sao nữa, từ từ em sẽ viết cho anh đi từ thi nhân lên thi đàn và thi bá.

Em chờ lời cho phép của anh.

Khải Minh

Cùng Quý vị và các bạn,

Sau bình luận của độc giả Thomas Lê ngày 21/6, nhiều độc giả khác đã có các bình luận thêm về bài của tác giả Chân Phương, như đã đăng trên Hội Luận. Trong ngày qua, các độc giả Võ Văn Nam, Nam Dao, Hà Minh… vừa gửi các bình luận mới cùng về khía cạnh này.
Nhận thấy vấn đề được trao đổi đã tạm đủ và cũng là để cuộc thảo luận hướng vào nội dung chính (văn học) của bài viết, chúng tôi đã có thư riêng đến nhiều độc giả và nay xin gửi thư chung đến Hội Luận.
Chân thành cám ơn!

Ban biên tập
bientap@hoiluan.vanhocvietnam.org