Nữ Lang Trung: Thơ đương đại Trung Quốc

Nữ Lang Trung dịch

Thơ đương đại Trung Quốc

 

Dịch giả Nữ Lang Trung [như tự bạch: Bà lang (băm) cho tác phẩm dịch] xuất hiện có lẽ không nhiều, nhưng “ấn tượng” và “hoành tráng” nhất là dịch Bách Dương và dịch lại Bách Dương ở tác phẩm “gây sửng sốt, choáng váng và thu hút hàng triệu độc giả của một đất nước có nền văn hoá trường tồn cùng lịch sử 5000 năm bề thế” với bản dịch Người Trung Quốc Xấu Xa, năm 2002, bên cạnh bản dịch Người Trung Quốc Xấu Xí của Nguyễn Hồi Thủ, 1998.
Đến với Hội Luận Văn Học Việt Nam lần này qua bản dịch thơ chọn từ sách Độc Giả Văn Trích của một số nhà thơ tiêu biểu thi ca hiện đại Trung Quốc, Nữ Lang Trung cho biết “bốn bài tuy ít ỏi, khiêm nhường, nhưng sự mầu nhiệm của một thế giới thơ lại rộng mở trước độc giả, thông qua nhiều sắc thái (trường phái): tượng trưng, lãng mạn, ấn tượng, và cả siêu thực nữa”.

Trong không khí của Chủ đề Thơ Việt Nam Hôm Nay, cho phép tôi nói thêm về chủ nhân thực sự của các bản dịch đó: Nhà thơ Dư Thị Hoàn – một tác giả, cùng với những Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Lê Lựu, Bảo Ninh… ở thời 1986-1990 làm văn học Việt Nam rung chuyển.

“Giờ đây, một hiện tượng văn học có phần tương đồng (với hiện tượng Hồ Dzếnh – ĐQ) lại xuất hiện: Thơ Dư Thị Hoàn. (Văn Tâm)

“Mặc dù trần trụi, cả về văn phong và đề tài thì người ta vẫn nhận thấy ở đó sự tinh thông sắc sảo và tinh quái, bị vây bọc trong bóng tối nhưng có thể quan sát, thông tin và hy vọng về ánh sáng; một giọng điệu hoàn toàn vắng bóng nỗi thương hại bản thân và một khả năng hài hước chua chát. Đó là phẩm chất vang vọng đến người đọc khi thơ chị lần đầu in trên báo Văn Nghệ cùng năm ấy (1987).” (Wayne Karlin)

Đó là về thơ. Ngoài thơ, mà thật ra cũng là thơ, Dư Thị Hoàn luôn là tác giả của các bài luận chiến về sinh hoạt thơ ca trên hầu khắp các hội thảo, diễn đàn văn học chính thống và “bên lề” ở cả trong nước và hải ngoại. Tôi cho rằng tinh thần vì thơ trong Dư Thị Hoàn nghiệm đúng phần nào với lời sau cho chính chị, như Nữ Lang Trung nói về tác gia Trung Quốc mà mình ngưỡng mộ: “Qua ngòi bút cứng cỏi, sắc nhọn đến sâu cay, nhưng uyển chuyển, lưu loát, lại dung dị và hài hước nữa, Bách Dương đã khởi động một cuộc "tẩy não" quan niệm văn hoá truyền thống bằng lay động từ chính nhịp đập của con tim lương thiện và can trường.”

Vâng, hai mươi năm trước, một cuộc tẩy-não-nhỏ về văn hoá tình yêu Việt trong thơ Việt từng được nữ sĩ thực thi qua một bài thơ sống cả đời:

Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em”

(Tan Vỡ)

Đỗ Quyên

 

Cố Thành

Cảm giác

 

Bầu trời màu xám

Con đường màu xám

Toà nhà màu xám

Cơn mưa màu xám

Trong mảng màu tro tàn

          chết tiệt kia

 

Đi qua

hai đứa bé

Một đứa nõn nà xanh

Một đứa tươi tắn đỏ.

 

Bành Quốc Lương

Điện thoại

 

Biết rõ mà, anh không ở đó

Nhưng em vẫn nhấc ống điện thoại đây

Vẫn ngón tay trỏ em khua mái chèo

Đẩy năm con thuyền nhỏ

Ghé mạn nơi anh

 

Rất có thể

Một luồng gió bất ngờ

Thổi cả năm

Tạt sang vùng biển nào đó

 

Cũng có thể

Đá ngầm chắn lối

Cầu phù chú em quên…

Lại bến vắng

Bờ thì xa

 

Nhưng em vẫn lái chèo cố gắng

Gom lời hứa hẹn của anh

Dựng lên cánh buồm thắm đỏ

Dù ở nơi nao

Anh cũng sẽ thấy

Có năm con thuyền quá tải

Mải kiếm tìm.



Từ Kính Á

Đằng nào cũng

 

Đằng nào cũng

Không thấy bờ – trước

Đằng nào cũng

Đã xa bờ – sau

Đằng nào cũng

Chân đạp sóng

Mê mẩn đời gió

Đằng nào cũng

Chìm đáy biển

đội đá ngầm

 

Đằng nào cũng…

Biển trời mang mang

Bến bờ còn tít tắp

Vậy thì

Trọn đời trao biển cả

Cho phía trước

Tuyến hàng hải còn

chưa vẽ ra…

 

Khuông Quốc Ái

Tầng sâu

 

Một hạt giống và một hạt giống

Chung chăn chung gối trong hố sâu

Hố đất quả là tối lắm

Một hạt giống hỏi:

"Mày có định ra ngoài không?"

Lặng đi một hồi

Hạt kia hỏi:

"Mấy giờ rồi?"

 

Hải Phòng, 17/6/2008

Nữ Lang Trung dịch

 

Chú thích:

 

 Các tác giả:

1.       Cố Thành (顾城)

Sinh năm 1956, mất 1993; Chủ soái của trường phái thơ “Mông lung”.

2.       Bành Quốc Lương (彭國)

Sinh năm 1957; Đại diện cho nhóm thơ “Đất quê mới” (Tân Hương thổ thi phái). 

3.       Từ Kính Á ()

Sinh năm 1949; Đại diện tiên phong cho nhóm thơ “Quật khởi” (Quật khởi thi quần); Nhân vật tiên phong cho phong trào đổi mới thi ca, khởi đầu nhóm thơ “Mông lung”.

4.       Khuông Quốc Thái (匡国泰)

Sinh năm 1954; Đại diện cho nhóm thơ “Đất quê mới”.

 

II.      Nguyên bản tiếng Trung:

1-                顾城  (Cố Thành)    
    感  覺  (Cảm giác)

        天是灰色的
        路是灰色的
        樓是灰色的
        雨是灰色的
        在一片死灰之中
        走過兩個孩子
        一個鮮紅
        一個淡綠

 

2-徐敬亚 (Từ Kính Á )                                

    (Đằng nào cũng)

 

 

 

前,不见岸

后,也远离了岸

既然

脚下踏着波澜

又注定,终生恋着波澜

既然

能托起安眠礁石

已沉入海底

既然

与彼岸尚远

隔一海苍天

那么

就把一生交给海吧

交给前方

没有标出航线

 

既然

(Còn hai nguyên bản khác, xin sẽ được bổ sung sau)

 


Bài đã đăng của Nữ Lang Trung

5 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Dịch tuyệt vời, chắc hẳn thơ nguyên bản cũng thế. Chỉ tiếc là không có bản Hán, hoặc Hán Việt, để thưởng thức.
Ngôn ngữ thơ ở các tác giả này, không cứ rối rắm ẩn dụ kiểu muốn hiểu thế nào tùy nhân tâm (và bao tử!) như thường thấy trong thơ Việt, kiểu tối tân hiện đại kêu lẻng kẻng, nhưng vẫn rất truyền cảm và gợi ra những không gian mới, vừa trí tuệ, vừa đầy nhục cảm (mà không cần tục tĩu để… hùng hục xác thịt).
Cám ơn Nữ Lang Trung!

Nam Dao

Lời giời thiệu của anh Đỗ Quyên, với tôi, sau khó hiểu thế. Chẳng biết Nữ Lang Trung với Dư Thị Hoàn quan hệ thế nào. Các trích dẫn (của Văn Tâm và Karlin) không biết dẫn ra để làm gì, vì đây là bài nói về thơ Trung Quốc đương đại mà không/chưa phải về nhà thơ họ Dư của chúng ta.

Muốn biết thơ ca đương đại Trung Quốc rõ hơn, theo tôi, thiết nghĩ ta nên vào đọc Tiền Vệ và Da Màu (xin vào xem các tác giả sau trên Tiền Vệ: Bắc Đảo, Cố Thành, Tây Xuyên, Mang Khắc, Diệp Huy…). Đội ngũ dịch giả trên ấy cũng đa dạng, người dịch qua tiếng Anh hay tiếng Pháp (đặc biệt là cố thi sĩ Diễm Châu, và các thi sĩ trẻ như Đinh Linh hay Lê Đình Nhất Lang), người thì dịch thẳng từ tiếng Trung (như Ái Vân Quốc, Trúc Ty).

Anh Nam Dao đọc được âm Hán Việt mà.

Quốc

Sao anh Quốc lại cho là khó hiểu nhỉ! Anh Đỗ Quyên viết: “Chủ nhân thực sự của các bản dịch đó: Nhà thơ Dư Thị Hoàn”, thì có nghĩa rành rành rằng Nữ Lang Trung chính là Dư Thị Hoàn. Các trích dẫn của Văn Tâm và Karlin là để giới thiệu thêm về người dịch Nữ Lang Trung / Dư Thị Hoàn. Đâu có gì mà khó hiểu!

Tất nhiên Tiền Vệ và Da Màu là những nơi giới thiệu nhiều tác phẩm Trung Quốc. Đặc biệt là Tiền Vệ, ở đó, ngoài thơ còn có cả tiểu luận, kịch, truyện của Cao Hành Kiện, Bắc Đảo, Tàn Tuyết, v.v… Rất nên vào xem.

Võ Văn Nam

Vâng, cảm ơn anh Võ Văn Nam đã chỉ dẫn. Tôi đã viết là “với tôi”, Tức là, với riêng tôi, cách diễn đạt của anh Đỗ Quyên làm tôi khó hiểu. Với anh Nam, có thể là dễ hiểu. Anh Đỗ Quyên viết giản dị hơn thì chắc tôi đã không thắc mắc (vì thực ra, cái nội dung anh ấy muốn nói không có gì phức tạp cả, nhưng cách diễn đạt thì lòng vòng, nên rất dễ nghĩ rằng: Dư Thị Hoàn và Nữ Lang Trung là hai vị khác nhau).

Quốc

Tại sao lại im lặng trước thơ Trung Quốc?

Để bài bà lang ế có nghĩa là thơ ế. Ôi thi sĩ Việt Nam sao tệ với khách vậy? Thôi để em làm mặt lì tiếp chuyện với chị dù chị chẳng để mắt tới em.

Bài Cảm Giác của Cố Thành là chuyển thơ từ một bức tranh vừa trừu tượng (mảng mầu Xám) vừa hiện thực (có hai đứa bé). Như vậy rất quân bình giữa mông lung và nghệ thuật.
Chuyển từ tranh sang thơ, em thấy ngứa mắt hai-ba chỗ sau:

1. Vần “Xám” dội 4 cú liên tiếp vào tai người đọc đã tạo cảm giác nhàm chán. Quá tam ba bận thôi. Thơ Lục bát dù có 3 vần bằng (êm, nhẹ, vang) nối kết với nhau nhưng cũng không dám đặt lì ở cuối câu mà phải có yêu có vận cho đỡ nhàm. Huống gì “xám” ở đây là vần trắc.
+ Kết luận: dù muốn diễn tả tâm tư buồn chán, thất vọng cũng đừng thái quá như vậy. Bốn lần “xám” ở đây giống như tâm trạng buông xuôi tuyệt vọng hoàn toàn vô hồn…. Em không thích kiểu ăn vạ con nít này trong thơ. Bởi vậy phải đổi vần điệu đi cho mầu xám có tia hy vọng.

2. Ba từ “chết tiệt kia”: Đó là chỗ duy nhất nhà thơ ba2y tỏ cảm tưởng, nhưng chúng thật vô duyên và ngạo mạn không đúng chỗ. Đừng nói gì để cường độ của tổng thể bài thơ tăng rộng hơn. Đằng này thêm chúng vào giống như chặt một con đường vô tận ra làm hai khúc làm bài thơ nhỏ bé đi, nghĩa là biểu lộ cái tâm giận hờn ham hố thế sự vô duyên của tác giả ra: dở ẹc.
+ Đề nghị: bỏ hẳn ba từ “chết tiệt kia” trong bài đi.

3. “Đi qua” ở đây không lập lại như vần “xám” làm bài thơ mất tính chuyển động tiếp nối chuyển động đi. Nó làm cho người đọc không nhập vào hành động “đi qua” này, nghĩa là chỉ có một ai đó “đi qua” mà thôi chứ không có nhiều người. Như vậy “Đi qua” chỉ có một lần ở đây thật vô nghĩa về ý và phản nghệ thuật về hồn. Thêm vài ba lần “đi qua” nữa tự nhiên trở thành có nhiều người “đi qua”. Có nhiều người đi qua vào trong đầu người đọc sẽ tự động lôi người đọc vào hành động “đi qua” cùng với mọi người trong bài thơ.
Đề nghị: Nhồi thêm hai ba lần “đi qua” nữa. Mỗi lần mỗi thêm lưu luyến và thêm tự vấn cho người đọc.

4. Hình ảnh “Hai đứa bé” ở đây cũng chưa đủ nghệ thuật chuyển từ tranh sang thơ. Vì viết như vậy người đọc có cảm giác là chỉ có hai đứa bé mà thôi. Khi đóng lại hay giới hạn lại chỉ “có hai” thì tầm nhìn, tâm tư, tư duy của người đọc bị đóng lại theo.
Đề nghị: thêm vào “hai đứa bé” thành “có hai đứa bé”. Như vậy bài thơ sẽ gợi ý là có nhiều người, có nhiều đứa bé nhưng nổi nhất là hai đứa thật xanh thật đỏ này.

Em chỉ liếc sơ sơ và góp ý với chị ít ra là bỏ hẳn:
1. Ba từ “chết tiệt kia” đi vì nó làm bài thơ đã nhỏ lại nhỏ hơn.
2. Thêm vào hai-ba lần cụm từ “đi qua” để tạo cảnh chuyển động lớn hơn.
3. Thêm vào “có” thành “có hai em bé” nói hai nhưng hiểu thành nhiều người.

Còn vào tay em thì bài thơ đó sẽ được thêm bớt ít ra là như sau:

Cảm giác _________ trắng

Bầu trời màu xám
Con đường màu xám ______ Trung Hoa

Toà nhà màu xám ________ Tử Cấm Thành

Cơn mưa màu xám _______ pháp trường _____ tử tội

Trong mảng màu tro tàn ___ hồn linh mở mắt

chết tiệt kia ________ bao người hờ hững

Đi qua ___________đi ___ qua – – – – đi – – – – qua

________________ có hai đứa bé

Một đứa nõn nà xanh __________ hẹn mai trở lại

Một đứa tươi tắn đỏ. __________ hối hả đi qua.

…..

Khải Minh