Ngô Minh: Thơ – Gieo và gặt

Ngô Minh

Thơ – Gieo và gặt (*)

 

Thơ Việt Nam từ năm 1954 đến nay có hai luồng khác nhau. Thơ ở miền Nam tuy “trong chế độ Mỹ-Nguỵ” nhưng nhà thơ lại được viết cái của mình, cái trong mình. Còn thơ ở miền Bắc, thì do “tập trung cho chiến đấu”, ”muôn mgười như một” nên tất cả cái “tôi” của thơ đều bị cấm kỵ. Thơ có chút riêng đều được liệt vào “lãng mạn tiểu tư sản”.

Hơn nữa bàn về thơ thật khó thống nhất. Bởi thơ còn có cái gu nữa. Cái tạng tôi thích buồn trầm lặng, tạng anh lại say yêu, bạo liệt, nhiệt cuồng. Có người chuyên viết thơ về “cái chúng ta” luôn phấn khởi: “Chào Xuân 61 đỉnh cao muôn trượng / Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng” (Tố Hữu), “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật), “Ruộng hợp tác nên người thôi chia cách” (Chế Lan Viên), “Tiếng hát căng buồm cùng gió khơi” (Huy Cận)…  Có người lại xoáy sâu vào “cái tôi cô đơn” của thân phận. Có người thì thích ý thơ cho rõ, có người lại muốn thơ phải nhòe mờ, không rành mạch, thơ phải dành khoảng gợi cho người đọc! Có người thì bảo làm thơ là làm chữ, nhà thơ là “phu chữ” (Lê Đạt), có người nhấn mạnh thơ trước hết là ý phải mới, nghĩa là nội dung mới đã rồi mới có hình thức chữ nghĩa đi theo. Thế nên mới có bài thơ người này thì khen, kẻ khác lại không thích. Đó là chưa nói đến các khía cạnh thuộc về các "chức năng văn học", “chức năng giáo dục”, tính này tính nọ của văn chương, của thơ (như người ta thường dạy trong sách mấy chục năm liền). Nói đến còn đa sự nữa.

Nhưng nói về thơ hôm nay, hay đúng hơn từ khi có “luồng gió đổi mới" đến nay, thì quả là có nhiều cái để ngẫm nghĩ, trao đổi. Cái ai cũng dễ nhận thấy là thơ đang in dấu chân đậm nét trên hành trình tìm lại chính mình. Hình như thơ đang dằn vặt để cắt bỏ dần “cục bướu” của chủ nghĩa duy lý thô thiển, sơ đồ hóa mọi cảm xúc và hình tượng thi ca, từ bỏ lãng mạn, từ bỏ cô đơn… Thơ đang “tiến vào” nội tâm con người thật với tất cả rung cảm máu thịt của nó. Mừng lắm chứ. Cách đây hơn hai chục năm, các nhà thơ ao ước "báo thêm chút thơ tình" (Nguyễn Trọng Tạo). Bây giờ thì trên các mặt báo hàng ngày, kể cả những báo đạo mạo nhất, dẫu chưa nhiều, cũng đã có đôi bài tình, đôi bài buồn đau, thế sự. Nghĩa là có đủ ngũ vị cuộc đời của cái cá tính sáng tạo khó chịu xưa nay!

Thế là những hạt giống của Tự do sáng tạo đã được gieo một cách cần mẫn. Và đây đó đã có những mùa quả bói. Các nhà thơ thời chống Pháp, thời Nhân văn-Giai phẩm vẫn trung thành với sự cách tân thơ của mình, vẫn muốn “chôn tiền chiến” như Trần Dần, Lê Đạt; hay vẫn đắm say như Hoàng Cầm. Một loạt các nhà thơ chống Mỹ, thời gian gần đây đang trăn trở, đổi mới như Thi Hoàng, Trần Quang Quý, Nguyễn Trọng Tạo, Trúc Thông, Hoàng Hưng, Trần Vàng Sao, Hoàng Vũ Thuật, v.v… Rất nhiều  nhà thơ trẻ xuất hiện với một lối thơ hoàn toàn khác như Vi Thuỳ Linh, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Nguyễn Bình Phương, Phan Huyền Thư, v.v… Đó là dấu hiện của một nhu cầu nội tại của xu hướng cách tân thơ không thể đảo ngược. Cái đó cũng nhờ đất nước hội nhập với thế giới, không còn sự khép kín với phương pháp sáng tác duy nhất. Cái được và cái chưa được thì hãy đợi thời gian phán xét, nhưng cái xu hướng thì thật đáng mừng.
Việc các tác giả trong Nam ngoài Bắc được phép bỏ vốn ra tự in thơ mình một cách sôi động đã giải tỏa được một khối lượng lớn thơ bị "ứ đọng" trong sổ tay tác giả. Nó đập nát cái thông lệ “cây đa cây đề”, “chiếu trên chiếu dưới”, móc ngoặc bao cấp về in thơ từng làm nhức nhối các nhà thơ mới nhập làng trong ba chục năm lại đây. Hẳn nhiên là đến nay nhiều nhà xuất bản "được gọi là sang trọng" của đất nước mỗi năm vẫn có năm ba đầu sách thơ bao cấp như trước cho các tác giả chính sách cần phải chiếu cố. Ví dụ người cao tuổi do Hội Nhà văn Việt Nam đầu tư. Dù có như vậy, cũng chẳng ai để ý đến nữa. Vì bỏ ra vài năm bảy triệu in một tập thơ không phải chuyện quá khó. Cái quan trọng là các tác giả tự do in thơ hơn trước, ít bị “biên tập” thô bạo!
Một anh bạn ở Hà Nội, làm thơ khá hay, khi tôi hỏi tại sao không đưa bản thảo cho nhà xuất bản Trung ương in, anh bảo rằng: "Anh không muốn bản thảo thơ của mình bị can thiệp quá sâu". Nhiều người lên tiếng lo lắng, phàn nàn về việc "lạm phát" thơ. Họ báo động về một nguy cơ làm giảm giá thơ. Riêng tôi nghĩ, ngược lại đây là điều rất đáng khích lệ, đáng chúc mừng! Cách in thơ hiện nay có mấy cái lợi…

Thứ nhất, là thơ không còn là vườn hoang cho dăm ba người được lăng xê từ một phong trào, một cuộc thi thơ nào đó múa gậy như trước nữa, mà trở thành rừng cây nhiệt đới xanh tươi muôn loài, muôn tầng.

Thứ đến, rõ ràng có rừng là có cây. Nhiều tác giả thơ được cả nước biết đến từ những tập thơ mỏng mảnh quê mùa về hình thức, in ở địa phương, tác giả phải tự bỏ tiền ra. Số tác giả này năm nào cũng xuất hiện với những tập thơ chững chạc đáng kính trọng. Thế là xuất hiện một tâm lý bình đẳng. Làm gì có thơ địa phương, thơ Trung ương, văn nghệ địa phương, văn nghệ Trung ương như quan niệm buồn cười của những người quản lý khi cấp giấy phép! Phong trào in thơ với hình thức ngày càng hiện đại, phong cách đa dạng như vừa qua, làm cho không ít tác giả "trúng quả chính sách" được bao in thơ ở các nhà xuất bản sang trọng ở Trung ương cũng phải giật mình trước chất lượng sút kém của thơ mình so với "đàn em", tỉnh lẻ! Đó là chưa nói đến việc trong thời Internet hiện nay, không cần in thơ ra giấy nữa, mà các nhà thơ trẻ  xuất bản thơ của mình trên các Websitte, Blog. THƠ MẠNG có khi còn nhiều hơn, cập nhật hơn thơ in báo viết, in sách. Cái MÔI TRƯỜNG THƠ đó nhất định là mảnh đất màu mỡ làm nảy mầm nhiều tài năng thơ tương lai với những cấu trúc thơ phù hợp với nó.
Ấy là thơ đang đổi mới đấy! Sao lại không? Thơ đang tìm những lối thơ phù hợp để đến với người yêu thơ. Nhà thơ nhìn lại cuộc sống hôm qua, hôm nay, nhìn lại chính mình với ý thức công dân và thái độ nhân văn cao cả. Đừng giật mình lo lắng, đừng vội vàng nổi cơn thịnh nộ vô lý trước sự kiểm nhận khắt khe của quy luật sáng tạo. Cái mới không bao giờ tạo ra trước các tiêu thức để đo nó, còn cái cũ thì hay đo cái mới, hay phán xét cái mới bằng kích thước của mình. Giọng “cha chú” dọa nạt quyển sách này, răn dạy, tịch thu “xay bột” tập thơ khác đều trái với quy luật của sáng tạo nghệ thuật. Giá như thời 1930-1945 người ta cực đoan, bắt bỏ tù những người theo trường phái Thơ Mới, thì nền thơ Việt Nam hiện đại làm sao có Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… Cả khi xét trên tập quán đạo đức truyền thống, thì không chỉ thời nay, thời "Tình già" của Phan Khôi, mà cả thời Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng đã phạm húy rồi đấy!
Tất nhiên, cái gieo còn quá mới, quá ít, lại chưa quen, chưa nhiều về thời vụ canh tác, lại thường xuyên bị chế áp bởi “lũ lụt, hạn hán” của tư duy cực đoan cũ, nên cái gặt còn lổ đổ. Có hạt chắt, hạt lép, thậm chí có cả cỏ dại đã được gặt về. Nên chăng với thơ ta hôm nay, chỉ nên bộc bạch với nhau đôi điều bên chén rượu ở một góc trăng nào đó. Ví như về sự chân thật: Thật và không thật, thơ và không thơ. Có lần uống rượu ở hè phố Hàm Long, Hà Nội, một bạn thơ thốt nhiên hỏi tôi "Thơ có hư cấu không". Tôi đã không trả lời câu hỏi. Bịa như thật – ấy là văn chương. Vậy thơ có quyền bịa như thật không? Bịa ra một nỗi đau, sự mất mát, tưởng tượng ra một tình yêu rồi làm những bài thơ có được không? Ai đã từng làm đôi bài thơ tâm huyết cũng dễ dàng trả lời: Không thể được! Xúc cảm thơ là không thể hư cấu. Thơ là tâm trạng thực của nhà thơ trước nhân tình thế thái. Gương mặt của thơ do số phận nhà thơ qui định. Hay nói cách khác nhà thơ là nhân vật chính của thơ mình. Nguyễn Hành, thế kỷ XIX, từng viết: "Tiếng kêu của chim thế nào, âu cũng có nguyên do của nó. Khi triều đình hữu đạo tôi liền hòa hợp quây quần, có lẽ vì vậy mà chim Phượng, chim Hồng hót nghe vui vẻ chăng? Lúc đời suy tàn, muôn dân ly tán, sầu oán có lẽ vì vậy mà chim Hồng, chim Nhạn kêu nghe buồn bã chăng? Bởi nhịp cảm xúc không giống nhau mà thanh âm của tiếng kêu cũng khác nhau… Tiếng kêu của ta đến thế chăng? Tiếng kêu não nùng của con chim Cuốc..."
Tiếng chim ấy là tiếng thơ vậy. Thế mà thơ ta hôm nay còn khối tiếng kêu không thật bụng đấy – Tức là than vay khóc mướn cho ngành này, ngành khác, tung hô cho muôn vàn ngày kỷ niệm. Thậm chí đã hình thành những “nền văn học ngành nghề” rất rầm rộ! “Nền” văn học ngành nghề càng phát triển thì càng đẩy văn chương đến tính nghiệp dư hơn, “ngoài mình” hơn. Nó không mang đến cho độc giả những tư tưởng lớn, tình cảm lớn thông qua hình tượng thơ mới mẻ, điển hình, mà nó làm cho thơ nhạt đi, “hèn kém” đi. Có cái tưởng như mới lại dổm; đó là thói bắt chước giọng điệu cho ra vẻ. Viết vô tội vạ về "em" về "tình yêu" trong lúc chẳng yêu ai cả. Có anh bạn ở trường Đại học Viết văn Nguyễn Du (cũ) tâm sự với tôi: "Mình đọc cả một tập thơ, có nhiều bài thơ khóc người này người nọ của một tác giả. Đọc xong thậm chí đôi chút ngậm ngùi cũng không có, làm sao mà khóc được. Có phải thế là dổm không?". Đơn giản là tất cả xảo thuật ngôn từ không được sinh ra từ sự ấm nóng của trái tim, thì dễ bị lộ vì câu thơ vô cảm, cứ chuồi đi theo vần điệu. Khuyết điểm "bịa ra thơ" này tôi gặp từ các nhà thơ đã có tuổi cho đến người mới viết. Cũng phải mở chút ngoặc đơn cho chặt chẽ là cái thật ở đây là cái thật của tâm hồn, tâm trạng. Cũng có sự thật của cõi mộng. Đó là sự ám ảnh, ám thị, sự tương tư khao khát đến mê si kiểu như Hàn Mặc Tử đến mức thành thơ, thành đạo thơ – Đó cũng là sự thật tuyệt vời của một tấm tình yêu. Tình sinh ý, ý sinh chữ, bởi cái này mà có cái kia, mà gọi cái kia là vậy. Còn như sự "hư cấu" ra tình cảm thơ thì thật làm khổ nhau quá!
Ở khía cạnh khác, cũng cần bàn đôi câu về cái thật mà không thơ, mà nhiều người làm thơ do bức bách về tâm lý mà hiểu nhầm. Uất hận về sự mị dân, dối trá, cưỡng hiếp giết hại dân lành, đục khoét của công của các cấp "quan cách mạng" thì người chính trực ai mà chẳng uất. Nhà thơ lại càng dễ nổi máu tam bành hơn. Nhưng từ chỗ căm thù đến thơ lại là một cấp độ khác. Thực tế mấy năm qua, chúng ta được đọc quá ít bài thơ thật sự thơ về đề tài này. Thơ viết liên tục, có báo tập trung cả trang, cả chuỗi, nhưng đa phần là những câu rủa, câu chửi lộng ngôn cho hả giận. Cái gọi là “thơ chống tiêu cực” khó có đất sống nếu nó không đạt đến độ thâm trầm cay độc như Tú Xương, Tú Mỡ ngày trước. Mà hình như chúng ta không còn Tú Xương, Tú Mỡ thời hiện đại nữa. Cũng rất may loại thơ này xuất hiện rầm rộ một thời gian ngắn rồi cũng tự lùi dần. Còn chăng là còn những bài trữ tình chính luận nhức nhối, nóng bỏng kiểu như "Nhìn từ xa… Tổ quốc" của Nguyễn Duy, "Đối thoại với Chí Phèo" của Trần Mạnh Hảo, ”Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” của Trần Vàng Sao…      
Một biểu hiện trong thơ thời gian gần đây cần lưu ý là sự chùng lại về nhịp điệu và sự lặp lại mô típ cũ. Có thể là do sự mở rộng phạm vi đề tài, sự thiếu thành công của những bước đầu thể nghiệm về đổi mới hình thức biểu hiện trong thơ của vài ba tác giả. Cũng có thể do sự sống lại của thơ ca tiền chiến mà một thời gian dài ở miền Bắc, nhiều thế hệ học sinh không được đọc đã làm cho cuộc bứt phá về hình thức của thơ ta về phía trước bị yếu đi chăng? Dầu sao đó cũng là điều có thực. Thế hệ chúng ta biết uống nước nhớ nguồn, nhưng phải làm ra cái của mình, không thể làm cái của thế hệ trước đã làm!
Nói thế chứ làm thơ cho đời thuộc đôi câu đã khó. Thuộc đôi bài còn khó hơn. Chứ gọi là hay để đời khen thì thật sung sướng. Trong ngày Đại hội Nhà văn Việt Nam tại Hội trường Ba Đình, chúng tôi nhận được câu hỏi phỏng vấn của một tạp chí văn nghệ do cố nhà thơ Trinh Đường chuyển đến: "Làm thế nào để có thơ hay?". Câu hỏi thật chết người. Thơ hay cơ mà, phải đùa đâu? Tối hôm đó, trong cuộc bù khú ở nhà khách Chu Văn An, mọi người sôi nổi bàn luận về “thơ hay”. Nhà thơ Phùng Quán góp chuyện bằng một mẩu chuyện vui: Tết năm ngoái, nghe người ta đổ nhau về Chùa Hà lễ Phật để cầu được ước thấy. Sau một ngày chầu chực, nhà thơ mới được quỳ dâng lễ vật để xin ước nguyện. Phật hỏi: “Nam trần muốn gì?” – “Dạ thưa, Phật phù hộ cho con làm được bài thơ hay ạ”! Nghe đến đây, Phật bỗng thở dài đánh thượt, nước mắt lưng tròng, xua tay mà rằng: “Con ơi, ước thứ đó thì khó quá! Ngay chính ta đây một đời ao ước mà không được. Nếu người thấy có chỗ nào cầu làm được thơ thì chỉ cho ta với!”
Gần đây đọc nhiều bài viết về chuyện “ngộ ra” của các nhà văn, như bài “Đi tìm cái tôi đã mất” của Nguyễn Khải, tôi thấy đó là điều có thật, rất thật. Nhưng có lẽ nhà thơ, rất nhiều nhà thơ Việt trong nước, đã “ngộ” việc này sớm hơn người viết văn xuôi trong nhiều năm. Có lẽ do nhà thơ là cái hàn vũ biểu nhạy cảm hơn. Ôi, thơ hay không thể cầu xin. Ai dám nói là mình sẽ làm những bài thơ hay! Thôi thì hãy nói với nhau một câu: Hãy viết cho chân thật, "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Cái thật, cái TỰ DO của tâm hồn tạo ra, là khởi đầu của cái hay vậy! Hãy gieo giống Tự Do cho thơ bay bổng…

 

Huế, ngày 8/6/2008

Ngô Minh

 

*) Bản đăng trên Hội Luận Văn Học Việt Nam có bổ sung so với hai bản đã đăng trên trang mạng vannghesongcuulong.org.vn và toquoc.gov.vn


Bài đã đăng của Ngô Minh

2 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Liễu Hạ Thị

“Khổng tử đã hạ những lời phê bình Kinh Thi như sau:
“Bất học Thi, vô dĩ ngôn” (nghĩa là: chẳng học Thi thì nói không thông – Luận ngữ, Quý thị)
“Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà” (nghĩa là: Thi có ba trăm thiên, nhưng chỉ một lời có thể trùm được là: không nghĩ bậy – Luận ngữ, Vi chính)
“Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khã dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ư điểu thú thảo mộc chi danh” (nghĩa là: Xem Thi có thể phấn khởi được ý chí, xem xét được việc hay dở, hòa hợp được với mọi người, bày tỏ được nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim, muông, cỏ, cây – Luận ngữ, Dương Hóa).”

Ngẫm mà xem…

Liễu Hạ Thị

Liễu Hạ Huệ ngày xưa chắc có nghĩ bậy nên không làm bậy. Nếu không nghĩ bậy thì làm sao tránh được làm bậy hè? Khải Minh chẳng hiểu Liễu Hạ Thị muốn nói gì ở đây. Chắc ngu quá chỉ thấy Thi của Khổng Tử Liễu Hạ Thị rặt những giảng huấn giáo khoa đạo đức chứ chẳng thấy mây gió lang thang (tiền chiến) hoang đàng mất nết (Nhân văn Giai phẩm), họa chăng giông giống với một trong tam thi (thi công thi sĩ thi nhân) kiểu Chân Phương mới đây. Đệ tử của vạn biểu thế sư chắc có cách khai hóa cho bà con dốt như Khải Minh này chứ. Mong lắm dù dài dòng cũng được.

Khải Minh