Hồ Đăng Thanh Ngọc: Năm bài thơ

Hồ Đăng Thanh Ngọc

Năm bài thơ

 

Chúng tôi vui mừng nhận được những bài thơ gởi từ Huế đóng góp cho Hội Luận trong những ngày chuẩn bị kết thúc Chủ đề Thơ.

Nhiều nhà văn đồng thời làm thơ, và thơ họ được người đọc chú ý. Hồ Đăng Thanh Ngọc là một trường hợp như vậy. Thơ anh, như trong những bài sau đây, mang vóc dáng của ngôn ngữ đẹp, giàu tính cổ điển, nhưng cũng phát lộ những cảm hứng thẩm mỹ hoàn toàn mới.

Nhà văn – Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc cũng là tân Phó Tổng biên tập (phụ trách) Tạp chí Sông Hương (Huế). Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Nguyễn Đức Tùng

 

GÁNH CƠM HẾN ĐI TRONG SƯƠNG


Phá vỡ sự đông đặc trắng

lửa hồng gánh cơm hến của em

mở lối trong sương

thành phố bắt đầu tỉnh giấc


Gánh cơm hến của em đi trong sương

Tôi nhìn thấy lễ hội của rau cỏ

mười ba hay mười bốn

                              những đoàn xiếc xanh và đỏ treo ngược

những cay-đắng-ngọt-bùi

trộn lẫn những chiêm nghiệm của dòng Hương

                              qua nghìn triệu mắt hến

ôi xanh Huế nói gì trên vai em?

 

Nói gì mà chén cơm nguội vẫn bốc khói?

Nói gì mà miếng da rán rộn ràng?

Nói gì mà miếng cơm hến thanh ngọt đọng mùi bùn

                              những ngày sông đục

Nói gì mà cay?

 

Mỗi sáng người sông Hương điểm tâm

                              bằng triết lý cuộc đời

nên mỗi người là một triết nhân, là nghệ sỹ

làm nên sự sang trọng của nghèo khó

và sự tinh tế của dân dã…

từ một chút cơm nguội, chút ruốc, chút muối, chút hến và vô số rau cỏ…

và những trái ớt cay-sự lừa dối tự nuôi sống.


Rồi em vẫy những chiếc nón chào những người xa lạ

đổi sự im lặng sống động này lấy sự sống động khác


Từ lễ hội của rau cỏ

Em làm nên "thành phố của nghệ thuật sống"

 

Vục mặt vào gánh cơm hến bốc khói của em

lắng nghe sự thủy chung sôi động

rồi hít hà thấy mồ hôi mặn của mình nhỏ xuống

Ôi thành phố này! Đừng có bốc hơi đi!

 

2.12.2002

 

VÀ NHỮNG NGÀY

 

Và những ngày không còn ai

Mưa xuống hút đầy gai nhọn

Con chim vành khuyên đã chết

Chiếc lồng xé buốt trên đầu


Tự do buông vành móng ngựa

Rừng thăm thẳm ngày xa xưa

Em khóc ngày nào đã chết

Mộng mơ rủ xuống gian trần


Thôi em tròn giấc mơ xa

Chuyến xe hai đường đi hết

Còn ai ngóng mưa về vội

Bão giông ở cuối chân trời


Và có ngày không còn ai

Hỏi trái đất này có mẹ

Sinh ai suốt bến không ngờ

Để mong mỏi mùa đông rụng


Và còn những ngày không ai

Những con diều hâu ngái ngủ

Ai đem khép nép nguyện cầu

Thánh giá buồn trên mộ cổ


Và còn những ngày không ai

Em ra đứng ngóng đầu đường

Anh vẽ ngàn ly rượu đắng

Tiễn nhau ở cuối chân trời.

 

HÃY CHO TÔI NHÌN EM


Hãy cho tôi nhìn em

Ở đó có những cánh chuồn tuổi thơ tôi

Rung rinh trên những cọng cỏ

Và những cánh chim non yếu ớt

Hát ca mừng ngày mới bắt đầu

Những cánh diều trong bóng chiều lộng gió

Bay như tóc em bay một chiều nào…

***

Hãy cho tôi nhìn em

Để nhớ những ngày xưa rất xanh

Tôi hôn lên đôi mắt người con gái

Như hôn lên giấc mơ của mình

Những giấc mơ về bầu trời cao rộng

                                                  chầm chậm trôi đi những cánh thiên di

          Và xao động những dải thiên hà

                              ***

Hãy cho tôi nhìn em

Để nhớ về những niềm vui của tôi

                    những niềm vui hiếm hoi như sao trời đêm đông

                    những niềm vui nhỏ như cánh én

Hãy cho tôi nhìn và em hãy cười đi!

Ôi nụ cười rất xinh của em

                              ***

Hãy cho tôi nhìn em

Để nhớ về những nỗi buồn đầy lên trong tim

                                                  trong những chiều cả gió

Đầy như mưa trời đêm qua rơi xuống nụ quỳnh

Một ngày xưa đưa giấc mơ xuống thuyền

Tôi sang sông lòng không ngoảnh lại

                              ***

Hãy cho tôi nhìn em

Để thêm một lần nhìn thấy khát vọng

Chúng đã rất xanh và đã cháy lên nồng nàn trong khuôn ngực

Như thanh xuân của em

Như ước mơ của em

                              ***

Hãy cho tôi nhìn em

Nỗi nhớ của tôi

Niềm vui của tôi

Nỗi buồn của tôi

Khát vọng của tôi

Một chiều nào sông Hương đầy mưa

Tôi nhìn rất sâu vào đôi mắt nâu

Hiển hiện gương mặt thánh thiện

          Và mái tóc ai dài như sông xanh

Tôi cầm tay em như cầm được giấc mơ của mình

Những giấc mơ bay lên trong gió…

2/7/2000

 

BIỆT CUNG

 

Đã khép lại rồi cánh cửa nối về phía Tây (*)

Ngoài ấy là dòng Hương thao thiết chảy

Ôi bức tường này, bức tường bên kia, bức tường trước mặt

Làm sao mà cao vời vợi thế?

*

Dưới lòng đất bên kia có một người đang yên nghỉ

Người đó từng là đấng quyền năng bậc nhất

Đã từng cùng một chữ "Khiêm" dạo chơi

Từng làm cho gió ở biệt cung này cũng reo lên vì vui sướng

Đã từng làm cho muôn loài ngã rạp dưới chân người

Và từng đêm, nơi đây rung lên những vũ khúc trình tấu

Cho người được quên đi những mềm yếu trong đời

Sao người không dạo chơi thêm vài mùa xuân nữa

Cho em được nở hoa một lần

Nở riết róng như loài sen người cho trồng khắp các lạch hồ…

*

Y, Trì, Tùng, Dụng

Khi người đi xa, chỉ còn chúng em với biệt cung vĩnh cửu

Khoảng trời của em là những đám mây lang thang qua ô cửa tò vò

Kéo theo mùa xuân vô nghĩa của em đi

Ôi những bức tường này, bức tường kia, bức tường trước mặt

Sao mà ngày một cao lên thế!

*

Những nhức nhối xuân thì dần tắt lịm

Và có một loài trinh nữ hoàng cung

Từ đó ra đời…

23.11.2005

(*) Trong lăng vua Tự Đức có một biệt cung. Nguyên đó là khu Y, Trì, Tùng, Dụng dành cho các cung nữ đi theo hầu vua ở mỗi khi vua lên lăng chơi. Khi vua băng hà, các cung nữ này được đưa lên ở biệt lập tại đây. Người ta xây bít cửa phía Tây lại và xây tường cao lên, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Và những cung nữ đã sống biệt lập tại đây cho đến khi qua đời…


LỜI Ạ, NGÀN SAU…


Rằng đó từ xưa ta tàn cuộc hội

Rêu đá trăm năm còn đợi nhau về

Cánh diều kêu mỏi mòn dây gió bụi

Lời của ngàn xưa ai hát từng hồi


Đêm khuya dặn lòng buồn say ngủ lại

Thảo nguyên còn xanh xa cuối chân trời

Lũ sói hãy còn hiền trông xác thỏ

Ngọn roi hư không dạy dỗ bao điều


Thì thôi về lại vườn hoa xấu hổ

Cổ tích còn đây ngủ vùi mơ đầy

Cây khế ngày xưa phượng hoàng về đậu

Có ai bán đi tìm được đồng vàng


Ta buồn suốt ngày ai không cổ tích

An-đéc-xen xưa cũng rũ áo về

Lũ trẻ lớn lên chơi trò điện tử

Chú bé ở truồng gọi mãi ân nhân.

 

Hồ Đăng Thanh Ngọc


Bài đã đăng của Hồ Đăng Thanh Ngọc

5 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Nguyễn Đặng Mừng

những cay-đắng-ngọt-bùi

“Trộn lẫn những chiêm nghiệm của dòng Hương

qua nghìn triệu mắt hến” (thơ Thanh Ngọc)

Hiện đại và cổ điển, thơ Thanh Ngọc trộn lẫn được điều đó, và tôi, thấy như thấy lại câu ca dao mẹ kể: “Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt, nồi đồng có quai.”
Nghìn triệu mắt hến hay vài mắt tre đối với Huế, với EM Huế tội tình chi mà hoài mãi rứa hè!
Cám ơn TN, cám ơn những “mắt tre, mắt hến” còn nghẹn lại trong thơ, trong anh, trong em, trong chúng ta, để một hôm đôi mắt người ứa được LỆ thơ.

Nguyễn Đặng Mừng

Về Hội Luận và các bài của Thanh Ngọc, TC Nguyễn:

Đọc Hội Luận như một niềm vui, niềm vui được thưởng thức, niềm vui được học hỏi. Hội Luận bỗng dưng như một nơi để “đi về” khi đầu óc mệt mỏi vì công việc – một giờ break quý giá. (Suy nghĩ về một đề tài khác cũng là một cách nghĩ ngợi tích cực, có phải không :). Hội Luận cũng gợi lên tính tò mò, đi tìm những đồng cảm, những cái “dễ ghét”, những cái “dễ thương”, những cái mới. Nếu có thể nói hết những gì “thích” và “không thích” thì có lẽ phải ngồi xuống với một chén trà, một chút trầm hương khói mỏng và đọc lại hết Hội Luận.

Bây giờ nhân đọc “Gánh Cơm Hến Đi trong Sương” của Thanh Ngọc (Huế xưa, Huế nay, chao, chừng như hiển hiện, ray rức thầm xin hỏi Huế tương lai?), và hai bài của T. C. Nguyen, nên can đảm viết vội vài giòng cảm ơn Hội Luận vì vẫn còn nhớ cái “nợ” đã hứa. Chỉ tiếc là đầu óc thích lang thang nên vẫn không viết được gì, hay vì vụng về nên vẫn chưa diễn tả được trên giấy những cảm nghĩ của NV.

Các bài thơ này của Thanh Ngọc và lờì bình của Nguyễn Đặng Mừng chừng như quyện lại trong NV – một độc giả đơn giản, chỉ biết đọc thơ theo xúc cảm của hồn – tạo nên một niềm vui. Vui vì được thưởng thức “Gánh Cơm Hến”, vui vì có người nghĩ giống như mình.

Phạm Nhã Vân

Anh Thanh Ngọc ơi, đói bụng quá mà anh dành hết cơm hến của em. Anh viết:

“Phá vỡ sự đông đặc trắnglửa hồng gánh cơm hến của em
mở lối trong sương
thành phố bắt đầu tỉnh giấc”

Em hiểu là Huế đói bụng đến mắt mờ nhìn đâu cũng hoa lòa giống sương.
Gánh cơm hến của em. Cơm hến đi mở lối, mọi người đi theo. Triết lý là có thực mới vực được Huế.

Anh ăn một mình xong rồi nói:

“Mỗi sáng người sông Hương điểm tâm

bằng triết lý cuộc đời

nên mỗi người là một triết nhân, là nghệ sỹ

làm nên sự sang trọng của nghèo khó

và sự tinh tế của dân dã…”

O my my Hue holy Hue!
Chạy theo cơm hến rần rần bây giờ phải điểm tâm bằng triết lý cuộc đời để biến thành triết nhân.
Triết nhân Huế có lẽ nào có ý niệm:

“Sang trọng của nghèo khó”

Thú thật độ lãng mạn này chỉ có trong lịch sử chính trị chứ triết học lẫn thi ca khó có thể hình dung ra được.

Anh Thanh Ngọc ơi, em không muốn làm triết nhân bụng đói mô, em muốn ăn cơm hến, cơm hến còn nóng như ở mấy câu đầu bài kia. Anh sửa lại hay giảng lại cho em từ câu số 5 trở xuống được không? Anh nhớ kết bữa cơm hến cho em no bụng xíu. Chứ kết lưng lưng lửng lửng như ni, mô mà em cảm thơ được.

Em đang đói và đợi anh Thanh Ngọc đó.

Khải Minh

Xin kính chào anh Khải Minh!

Trước hết xin gửi lời cám ơn anh đã đọc những vần thơ quê mùa của tôi. Và cũng thành thật xin lỗi vì sự hồi âm chậm trễ này do tôi có việc phải đi vào miền rừng A So gần 1 tuần.

“Sự sang trọng của nghèo khó” chính là “một trời thương nhớ” của Huế, nó là một trong những sắc thái của Huế dân dã mà kiểu cách. Nói về chuyện này phải mất rất nhiều trang giấy. Xin nói qua rằng cái sự sang trọng của nghèo khó này gắn rất chặt với chất “mệ Huế”. Ngày xưa thời vua Nguyễn, như thể có quy ước ngầm nên con cháu các vương tôn không hề đi thi để đỗ đạt ra làm quan, mà chỉ sống nhờ bổng lộc vua ban. Bổng lộc dồi dào thì các vương tôn sống thoải mái, gặp lúc trong kho vua có hạn thì đời sống các vương tôn cũng không kém lao đao trong cảnh nghèo. Mặc dù vậy, các vương tôn luôn giữ cái chất quý tộc của mình, đẩy nó lên thành cá tính mạnh mẽ gọi là “chất Mệ”.
Đó thật sự là một bi kịch cho tầng lớp quý tộc này lúc vương triều nhà Nguyễn đã về chiều. Huế còn lưu giữ nhiều giai thoại rất hay về đời sống của các “Mệ” mà chắc anh đã từng nghe qua. Ca Huế nhờ có nếp sống quý tộc cung đình mà hình thành rồi lan toả ra trong dân gian, để bây giờ người ta nghe cả ca Huế trên sông Hương. Đời sống quý tộc cung đình cũng lan toả trong dân gian nhiều thứ khác nữa.
Và sau này, với cách chế biến cơm nguội thành cơm hến, đó là phảng phất cái kiểu cách của những kẻ nghèo mà vẫn cứ sang. Ở Huế, người nông dân và lao động chân tay ngày xưa đâu có ăn cơm hến, bởi ăn cơm hến thì lấy sức đâu mà làm việc nặng). Vậy thì cơm hến phải từ bếp núc các gia đình quý tộc nửa mùa trăng rảnh rỗi ngồi nghĩ ra món này món nọ. Ở Huế có câu đố: “Cơm chi thuộc loại cơm nghèo / Cơm thì cơm nguội lại nhiều ruốc rau / Có vui mới gọi tới nhau / Cớ chi sì sụp giọt sầu chứa chan?” . Câu trả lời là “Cơm hến đâu phải nhà nghèo / Cơm nguội, hến luộc, nước lèo, ruốc rau / Bắp chuối, tóp mỡ, ớt màu / Ăn vô một đọi, sang giàu cũng mê”. Vì nhiều lẽ như thế, tôi mới mạo muội gọi cơm hến là “sự sang trọng của nghèo khó”.

Còn “Tôi nhìn thấy lễ hội của rau cỏ / mười ba hay mười bốn những đoàn xiếc xanh và đỏ treo ngược / những cay-đắng-ngọt-bùi” là nó về các phụ gia là nên món cơm hến. Anh cứ nhìn 1 gánh cơm hến là biết liền hà.
Nếu anh không chê, hôm nào về sông Hương, xin mời anh cùng đi ăn 1 cơm hến chò hỏ cay xé lưỡi bên vìa hè xứ Huế…

Thanh Ngọc

Anh Thanh Ngọc hỉ.

Chà, đọc anh em không thèm cơm hến nữa mà thèm cái lịch thiệp của anh. Anh vào miền rừng A So có nhớ cơm và người làm cơm hến không?

Ngày xưa em cũng có hai miền rừng A Muối và A Phụng một ở Cái Răng, Cần Thơ và một ở Võ Duy Nguy, Phú Nhuận. Những người con gái Minh Hương vừa vui vừa nhân hậu. Nghĩ lại thấy có nhiều dấu tích đẹp trong hồn hôm nay.

Cám ơn anh đã giải thích nguồn gốc sự sang trọng của nghèo khó. Thì ra Huế trở thành một trung tâm bảo tồn của thế giới chính là do sự tích sang trọng ni.

Tiện đây em cũng xin thay mặt thanh niên Quảng Nam hỏi anh là tại sao các cô gái Huế xấu thì ít và giống nhau. Còn các cô đẹp thì mỗi cô mỗi vẻ và chiếm đa số. Tụi nó bảo là do ngày xưa vua tuyển người đẹp khắp nơi. Lâu lâu vua kiệt sức băng hà thì các cung nữ chưa hư hỏng gì với vua đã được thả ra. Mà hồi đó được thả ra nào có mấy ai biết đường về quê. Mới lơ ngơ ra đường đã bị đám con trai Huế đem về nấu cơm hến rồi nên phụ nữ Huế đẹp, nhiều bí quyết chiều vua là do đó mà ra. Còn các cô gái Huế chính gốc thì giống phụ nữ Chàm.

Anh có đồng ý không?

Khải Minh