T.C. Nguyễn: Ngôn từ thơ

 

T.C. Nguyễn
Bộ tam về Thơ
 


2. NGÔN TỪ THƠ

Khi thưởng ngọan một bài thơ, ta thường hút mình vào khoảng không gian có được bằng những ngõ ngách tạo dựng còn lại của tác giả, và biến mình thành chủ thể mặc sức mà trải hồn để tìm kiếm những cảm nhận của riêng mình.

Nếu thu thập được một bài thơ nơi đó có thể hòa nhập với hồn ta thì tự nhìên nó tạo ra một thi hứng như của chính mình, và bài thơ đó biến thành của ta và tác giả là ai trong khoảnh khắc bị hất ra lề cuộc chơi.

Như vậy, một bài thơ khi được đưa ra quần chúng đọc thì tự nó là của mọi người đang thưởng ngoạn, nó không còn đóng khung trong sự tư riêng trong cái tôi của người tạo ra bài thơ đó nữa. Một bài có nhiều người đồng tình thả hồn vào đó một cách dễ dàng và nhớ mãi thì bài thơ (thi sĩ) có chỗ đứng một cách hẳn nhiên.

Nhiều khi một bài thơ chỉ cần đôi câu hay cũng đủ rồi, vì bản chất của thơ là cô đọng ngôn từ, nhờ vào tiết điệu âm thanh đưa đẩy, làm nẩy ra những ý ngoài lời và người thưởng ngoạn tùy theo vị thế của mình tác động vào càng nhiều, càng đi xa và đến một lúc nào đó sẽ qui tụ cùng nhau ở cảm nhận - Đó là sự đồng điệu người thơ hay dùng để chỉ về một đẳng cấp thưởng ngoạn. Nó giống như những đường song song gặp nhau ở vô cực. Trong toán học sự gặp nhau có tính cách xác quyết, nhưng trong thơ nó mông lung và lệ thuộc vào cách sử dụng ngôn từ khai triển ý nghĩa để lãnh hội được càng nhiều càng tốt và vươn dài ra để rồi co cụm hội tụ lại. Và lúc đó nó mới phơi bày ra sự cảm nhận được ý thơ, hồn thơ… theo tâm tư của người đồng điệu.

Bài thơ “Màu thời gian” độc nhất vô nhị của Đoàn Phú Tứ có thể là một dẫn dụ…

Màu thời gian

Sớm nay tiếng chim thanh

Trong gió xanh

Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

 

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi

Ta lặng dâng nàng

Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

 

Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngát

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh

 

Tóc mây một món chiếc dao vàng

Nghìn trùng e lệ phụng quân vương

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

 

Duyên trăm năm đứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

Với một tiêu đề đầy tính Triết như vậy mà tác giả lại xoay quanh một khúc nôi tình cảm, giải bày tâm tình qua ẩn dụ vấn vương của một dòng thi tứ đầy lãng mạn. Thơ là người, người là thơ; Hay nói khác hơn là sự giải bày tâm tư tình cảm bị ứ đọng do một cơ duyên nào đó, có lẽ là sự cọ sát đối chọi tự trong cõi hỗn mang của hiện sinh để làm xuất hiện ra một cảnh giới mới trong tâm ảo tha hồ xuất thế đi vào một cõi mộng mơ huyền hoặc để đầy vơi tâm sự mình.

Thơ là chuỗi dài man mác những uyển từ đầy ẩn dụ tạo thành âm điệu đầy vương vấn; Khởi đầu nhà thơ cho ta đi vào một thế giới dịu mát của một sớm mai yên lành của một khoảng không gian mở ra dễ thương và đầy tình tự:

Sớm nay tiếng chim thanh

Trong gió xanh

Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

Dìu vương hương chỉ có ba chữ thôi đã tạo ra sợi tơ vương kéo dài quấn quýt lấy tiếng chim thanh  ảo biến trong tiếng gió màu xanh hòa nhập vào nhau tạo ra tâm cảnh cho nhà thơ đưa hồn mình vào một quảng trời quên lãng xa tít mịt mù khơi, ở đó tự mình nhập thế và thành một Hán Vũ Đế muốn choàng tay âu yếm nàng cung phi yêu dấu để tặng nàng tất cà trời mây phảng phất thời gian nhưng bị nàng từ chối, đã làm lay động đến ngàn sau một nỗi nôn nao của câu chuyện tình dường như đã vùi chôn, bỗng nhiên quay về…

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi

Ta lặng dâng nàng

Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

Thơ có thể nói là một sự xảo ngôn để hướng đến sự dàn dựng tâm cảnh khơi động tâm thức người thưởng ngoạn được đi về một cách tự do, để tự tìm kiếm ngả vào xuyên suốt qua tác phẩm, nẩy sinh ra một cuộc xung đột nội tại, tạo ra sự xáo trộn bất hòa; vì người thưởng ngoạn thường hay bị ngưng đọng bởi ý nghĩa ngôn từ, có tính cách so đo trong buông thả có khi dường như vô nghĩa của những sáo ngữ vô căn. Nhưng đây chính là nơi mong tìm của tiếng thơ, có thể du hoặc hồn người để kích động đi tìm một ngả đời mà thế tục không có.Tiếng thơ đã âm vang trong không gian muôn chiều, nó chỉ khởi động theo thời gian ở đó nhà thơ và người thưởng ngoạn giao thoa trong một bối cảnh lạ lùng bỡ ngỡ, vì được làm quen trong một sát na, mà phạm trù ngữ pháp có giới hạn, đặt để cho người thưởng ngoạn phải soi mói tìm kiếm trong những phần ký ức nhạt nhoà bị bỏ quên trong phần sâu thẳm cũ kỹ bây giờ được dịp bộc phá để hòa nhập lẫn vào hồn thơ, người đọc tự định hướng và cho ra một ngã rẽ khác mà mình không biết, vẫn đinh ninh rằng ta với nhà thơ là một.

Người đọc tự dưng bị cưỡng bách đi tìm kiếm chính mình trong một cuộc hành trình cô độc mà tiếng thơ, hồn thơ … như mời gọi nhập vào cái thân phận con người có hỉ, nộ, ái, ố… làm căn cơ cho đời sống bình nhật.

Thi nhân là người nhạy cảm và dễ lụy vì tình, sẵn sàng dâng hiến hồn mình cho người yêu, nhưng rất tế nhị khi chưa được san sẻ. Nhà thơ phải dùng hình ảnh của trời mây phảng phất nhuốm thời gian để chỉ hồn mình, dẫn đưa người đọc đến cảnh huống khác, với màu thời gian thay đổi khi thì xanh khi thì tím và cả mùi hương thời gian thì thơm phảng phất nhẹ nhàng, pha trộn Tây-Đông; trong thơ của Pháp thời gian màu xanh, còn trong thơ ta, trong tình yêu người con gái thường lấy hoa màu tím làm biểu tượng, nên màu thời gian lại tím theo.

Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngát

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh

Tình yêu ở đây là một thứ tình yêu tinh khiết, nhẹ nhàng, thoáng đi qua chỉ còn vương lại một lưu dấu trong cõi lòng, nhà thơ đưa vào hương thời gian còn vương vấn trên ngàn cây nội cỏ lung linh biến ảo, theo nhịp dâng tràn, bay bổng của tâm hồn.

Sự rung cảm là mối tương giao tha thiết của cuộc sống giữa con người và vạn vật trong cái đại ngã vô cùng tận, đeo mang một chút hành trang trong cái tiểu ngã thường tranh chấp với chính mình - Đó là sự đối chọi làm nẩy sinh do sự cọ sát tâm thức bật sinh ra thơ, giống như tiếng chim hót vì ngứa cổ cất tiếng hát chơi!

Sự hỗn mang trong thơ, tạo ra tính chất hư vô đưa đến ý tưởng là mỗi chữ trong thơ nó không hàm chứa một sự vật, gần như là dối trá với chính nó. Đó có phải là sự chối bỏ thực tại, vì sự lẫn lộn này trong thơ thường biểu hiện. Nhà thơ đã trộn lẫn chuyện nàng cung nữ đời Hán với  Dương Quí Phi của Đường Minh Hoàng, tạo ra hình tượng của mối tình chung toàn bích trong ấn tượng mà con người không muốn có một sự hư hao mất mát nào.

Tóc mây một món chiếc dao vàng

Nghìn trùng e lệ phụng quân vương

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Thực chất thơ là sự kết cấu ngôn từ theo một cách thức riêng để làm sao khơi động được tiềm thức trong đó đã ẩn dấu không có cơ hội hồi sinh trên bề diện tình cảm tâm linh…

Vậy nên sự lừa phỉnh nếu có thì đó cũng chỉ là phương tiện dẫn dắt để con người có thể cảm nhận được cái phần sâu thẳm nhất của tâm hồn; và tự nó đã nói lên một ý nghĩa nào đó có tính cách sáng tạo và thẳng tiến vào lòng người trên bình diện dễ phổ cập hơn.

 

(Còn tiếp: 3. Thơ - Có không?)

Úc châu, ngày 16/6/2008

T.C. Nguyễn


Bài đã đăng của T.C. Nguyễn

1 phản hồi/comment

Comments feed for this article

NV rất thích hai bài viết của TC Nguyễn, dù không thích những “title” của các bài như là Thơ - Đòi Giảng, Ngôn Từ Thơ; và đang “hồi hộp” chờ đọc “Thơ - Có không?” đó!

Phạm Nhã Vân