Khải Minh: Kỹ thuật tạo tuyến và thơ Việt Nam hôm nay

Khải Minh

Kỹ thuật tạo tuyến và thơ Việt Nam hôm nay

 

Mười năm đã qua, bao nhiêu thơ đã chảy qua cầu chữ nghĩa, với tôi và hiển nhiên với tác giả Khải Minh.

Mười năm, là kể từ khi tôi được đọc bản thảo đầu tiên của anh. Nhưng tôi cho rằng từ lâu, từ trước, và cho đến tận hôm gửi bản thảo mới nhất này, Khải Minh ngày càng nâng lên cái cao vọng của mình: Đề xướng một “lý thuyết thơ”, đúng ra là “lý thuyết làm thơ”, ít nhất cho thơ tiếng Việt. Tôi chưa được thấy một công trình tương tự…

Các nghiên cứu của Khải Minh, trước đây thường chỉ được phổ biến sơ lược trong vòng đai bạn bè, ngay cả ở một số diễn đàn, cũng là diễn đàn bè bạn. Nên công trình “độc lập và… lập dị” này không có cơ hội cọ sát với giới nghiên cứu lý luận, phê bình văn học. Niềm vui mừng và hồi hộp của tôi là được giới thiệu bản sơ lược dưới đây trong Chủ đề “Thơ Việt Nam Hôm Nay” của Hội Luận Văn Học Việt Nam – một diễn đàn cho các vấn đề của văn học Việt đương đại.

(Đỗ Quyên)

 

Dàn bài: 

A. KỸ ThuẬt TẠo TuyẾn

I. mỤc Đích

II. Thơ và Sáng Tác Thơ

1. Thơ

2. Sáng tác

II. Các kỸ thuẬt thơ: Trực tuyến, Tương tuyến và Tạo tuyến

1. Trực tuyến

2. Tương tuyến

a. Tương tuyến áp dụng

b. Tương tuyến ứng dụng

c. Tương tuyến sáng tạo

3. Tạo Tuyến

a. Về tư duy

b. Về hình thức

c. Về phê bình

III. MỘt thí dỤ

1. Không tuyến

2. Tạo tuyến

3. Vài nhận xét về cấu trúc theo kỹ thuật Tạo Tuyến trên

a. Cách sáng tác

b. Cách đọc

c. Cách thưởng thức

 

B. THƠ VIỆT NAM HÔM NAY

*

A. Kỹ Thuật Tạo Tuyến

I. Mục Đích

Thiếu sự đa dạng đồng nghĩa với nghèo túng cùng mọi hệ quả tồi tệ như chủ quan trong sáng tác, độc tài trong tư duy, lạc hậu trong lịch sử, độc đảng trong chính trị v.v…

Nếu không kết hợp những mẫu tự, số mã, ký hiệu đa dạng, đa nguồn như "A" (Latin), "I" (La Mã), "1" (Hy Lạp), "a", "i" "*", "-" … thì làm sao chúng ta có thể trình bày một bài học căn bản, một hệ thống tư tưởng phức tạp cho mạch lạc? Sự đa dạng trong sáng tác là điều căn bản và kỹ thuật để cụ thể hóa nó phải trở thành sự ám ảnh trong tư duy khi sáng tác.

Hãy bước một bước ra khỏi cõi chủ quan để thấy thơ. Từ đây hãy bước thêm một bước nữa để giao lưu thơ với mọi người. Đa dạng hóa tính chủ quan là tâm tưởng lớn của nhiều thời đại trong nhiều lãnh vực nhưng cụ thể hóa và thực hiện được nó thì thật nan giải. Chúng ta thử cụ thể các đa dạng hóa chủ quan trong thơ qua kỹ thuật "tạo tuyến" sau đây.

II. Thơ và Sáng Tác Thơ

1. Thơ tạo được ý niệm nơi con người là do nội thức (chủ thể, feeling~inconcience) tác tạo với cảnh vật~thời thế để thành nội thức thơ. Có thể ví thơ như khối thủy tinh nào đó, nội thức như ánh sáng: Ánh sáng đi qua khối thủy tinh phát ra những tuyến mầu khác nhau. Những tuyến màu này sẽ gợi ra những tuyến thơ.

2. Sáng tác là đem nội thức thơ này tác tạo với đồng thức (khách thể, qui ước chung, thỏa thuận giữa người viết và người đọc) qua các yếu tố (thân – percept, tâm – image, trí – concept) và các phương tiện truyền thông (âm thanh, ngôn từ, hình ảnh, điệu bộ, khung cảnh, ngữ nghĩa v.v…) thành thể thơ (dạng thơ, văn bản). Phần tạo tác thành thể thơ ở đây gọi là kỹ thuật thơ.

III. Các loại kỹ thuật thơ: trực tuyến, tương tuyến và tạo tuyến

1. Trực tuyến:

Trước mỗi cảnh vật hay sự việc, mỗi người có cách và kinh nghiệm riêng khi Ngắm, Nghĩ, Cảm, Tưởng Tượng, đó là kỹ thuật trực tuyến. So với lý thuyết, kỹ thuật này giống kỹ thuật sáng tác (hồi 1 trong 3 hồi) của phái Siêu Thực (Surrealist automatic writing).

2. Tương tuyến: 

Tương tuyến là diễn biến nội thức tạo tác với  đồng thức qua trung gian truyền thông (nói, kể, diễn, họa, văn bản v.v..). Chúng ta tạm nêu ra ba dạng tương tuyến: áp dụng, ứng dụng và sáng tạo.

a. Tương tuyến áp dụng: Làm thơ như máy, bắt chước hay áp dụng luật (vần, điệu, bằng trắc, ngắt dòng, thơ cũ, thơ mới, tự do….) mà không tư duy hoặc không hiểu tại sao trong khi sáng tác.

b. Tương tuyến ứng dụng: Đó là những hiện tượng đem những mô hình lý thuyết của ngành khác (như ngôn ngữ học, triết học, hội họa, khoa học…) để ứng dụng vào việc cấu trúc thơ.

c. Tương tuyến sáng tạo: dùng tư duy để ứng dụng hoặc biến chuyển các quy luật thơ.

Thí dụ 1: Chọn âm "A", vần "I"  thay vì "Ơ", "U" khi phải so đo giữa âm và ý.

Thí dụ 2: Hiểu "Vần" tương tạo "Điệu" như "âm" tương tạo "dương" trong thuyết Nhị Nguyên và suy ra "Tụ" tương tạo "Tán", "ngữ" tương tạo "nghĩa", "hồn" tương tạo "xác", "Nội Thức" tương tạo "Đồng thức"; giống "signifiant" tương tạo "signifiée" (signifier/signified theo thuyết ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure). Các luật thơ như "đối", "vần", "điệu" và các cấu trúc có tính tương ứng trong cấu trúc câu, khổ, bài được tư duy hóa ít nhiều. Có nghĩa là người sáng tác sẽ thay thế các luật thơ căn bản hay cụ thể kia bằng những cấu trúc có tính tư duy cao hơn. Thí dụ thay "vần", "điệu" trong câu bằng những ý niệm trong nhị nguyên "âm" "dương": Thay "Vần" bằng những khoảng trống, bằng những cách ngắt dòng hay bất cứ phần chìm nào đó. Thay "Điệu" bằng những phần nổi, hình ảnh, ký hiệu nào đó trong văn bản. 

Thí dụ 3: Bảo thơ Thất Ngôn Bát Cú có dạng giống như hoặc phong phú hơn dạng "Đề" ->, "Phản Đề" => Tổng Đề" (These, Antithese, Synthese như các kiểu dialectic trong triết học) để cấu trúc hình thái cho văn bản thơ.

Thí dụ 4: Lấy hình thức các khổ thơ trong một bài thơ mà hình dung ra cấu trúc tư duy Hậu Hiện Đại.

3. Tạo Tuyến: Chủ thể~~Thể~~Thể~~Đồng thể (nên trình bày nhiều cách ít ra là với không gian 3 chiều thay vì phẳng thẳng (linear) như ở đây.

Nâng tư duy "tương tạo" trong tương tuyến chuyển lên bực "Tác Tạo" thì chúng ta có kỹ thuật Tạo Tuyến.

Lý thuyết về Tạo Tuyến sẽ có dịp trình bày chi tiết hơn, ở đây xin nêu vài ví dụ:

a. Về tư duy:

i. Tạo Tuyến vừa giữ được Nội Thức nguyên thủy vừa phát tán ra các tuyến nội thức khác để giảm hoặc xóa đi tính chủ quan vốn rất tù túng và giới hạn trong nghệ thuật. Nghĩa là người sáng tác sẽ từ một biến thành nhiều theo số tuyến. Chúng ta có thể so sánh hiện tượng "độc tài" giống như thơ chủ quan không tuyến và "đa đảng" như thơ tạo tuyến.

ii. Số tuyến sinh ra do sự tác tạo giữa Nội Thức và Đồng thức càng phong phú thì các tư tưởng lạ và những quan niệm mới càng nảy sinh nơi người sáng tác. Quan niệm về "khoảng khắc tự tại" vốn thiên về nội thức có thể không còn thích hợp với tư duy tác tạo với đồng thức này nữa.

iii. Tính khách quan trong kỹ thuật tạo tuyến sẽ đa dạng hơn. Có được điều này, một phần do tính chủ quan bị nhòa đi, phần khác do có nhiều tuyến khách quan khác xuất hiện trong một cấu trúc. Các tuyến này, có tuyến có dạng cụ thể như từ ngữ, cách trình bày văn bản, có tuyến ẩn hiện như bóng qua các ký hiệu trong cấu trúc làm tư duy người thưởng thức mở rộng ra. Sự mở rộng này có thể đi từ thỏa thuận đến sáng tạo thêm.

b. Về hình thức

i. Từ đây, đầu đề, câu, từ, cụm từ, khổ, bài… sẽ được trình bày thành nhiều tuyến. Từ đây, phần nội thức sẽ sinh ra các tuyến chủ thể. Phần đồng thức sẽ sinh thêm các tuyến khách thể. Mỗi tuyến có thể có cấu trúc khác nhau. Thí dụ đơn giản nhất, chúng ta hãy tưởng tượng một bài thơ Đường Luật 8 câu được xếp lại thành sáu câu như sau:

 

1

2

3 ~~ 5

4 ~~ 6

7

8

 

Cách xếp đặt này sẽ tác động lên tư duy khi sáng tác để tạo ra một trật tự mới. Ở đây các cặp đối không còn lệ thuộc vào "trên-dưới", "trước-sau", "trọng-khinh" cho những gì cùng  tuyến. Thí dụ này chỉ là cớ rất nhỏ gợi ý cho chúng ta khai triển nội thức và đồng thức để tạo ra những cấu trúc mới.

ii. Kỹ thuật tạo tuyến làm cho văn bản có nhiều dạng cấu trúc hơn. Thí dụ một cấu trúc có tuyến ngôn từ nổi~~vui, có tuyến nhạc ngầm~~buồn, có tuyến hiện thực cảnh kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.

iii. Sáng tác theo tạo tuyến (thơ, tranh, nhạc, điêu khắc hay các ngành nghệ thuật) sẽ phá vỡ nhiều sự tù túng mang tính chủ quan, cá thể như thơ bố cục chỉ trong một bài, tranh xếp đặt chỉ trong một bức… Với tạo tuyến, tất cả mọi bố cục sẽ theo luồng nội thức, theo chuỗi sự kiện, theo hứng không gian, theo ý thời gian… mỗi bài, mỗi bức là mỗi tuyến, chúng không còn cách biệt riêng rẽ mà sẽ tạo tác lại với nhau thành một cấu trúc có nhiều bài, nhiều bức và đương nhiên đó là một cách dẫn tới hình dạng những tác phẩm lớn.

c. Về phê bình (giải tuyến)

i. Tạo tuyến có thể có dạng một tuyến "Cũ" tạo tác với một tuyến "Mới" hoặc một tuyến "Vị Nhân Sinh" song song hoặc chồng khớp với một tuyến "Vị Nghệ Thuật" hoặc một tuyến "thơ" cạnh một tuyến "văn". Điều này sẽ làm giảm hoặc xóa hẳn đi nhiều tiêu chuẩn cố chấp của giới phê bình như so sánh cũ với mới, định danh trường phái này với trường phái kia.

ii. Tạo tuyến giữ được vừa phần hứng của thơ, vừa phần riêng của nội thức, đồng thời có thêm cách cấu trúc đồng thức càng đa dạng càng gợi mở. Các yếu tố này  giúp người phê bình biết định vị trí và quyền hạn của họ một cách rõ ràng hơn để viết vững vàng hơn.

iii. Và đương nhiên phê bình sẽ chuyển hướng từ coi trọng những tiêu chuẩn sơ đẳng như đời tư, trường phái, ngôn từ, hay-dở đến hình thức và nội dung của từng tuyến riêng hoặc nhiều tuyến tương tạo nhau. Nghĩa là người phê bình lấy văn bản của người sáng tác làm nguồn nội thức cho công việc của mình.

IV. Một thí dụ

1. Không tuyến

Một hôm Đức Tùng tung lên diễn đàn Cầu Khỉ một vài câu như sau:

N KHẤU

Anh sắp sửa

Hôn cô

Năm phút nữa

Mặt nạ của cô 

Rơi xuống

Năm phút nữa

Quần lót của cô

Tuột xuống sàn nhà

Vào phút thứ ba

Một khán giả

Chậm chạp bước qua 

Tách họ ra 

Bằng nỗi bi quan lan tỏa của mình.

2. Tạo tuyến

Từ bài trên, hãy thêm vài tuyến mới vào như sau:

N KHẤU~Cầu Khỉ~ lịch sử

Anh sắp sửa ~~ thứ sáu đã là muộn ~~ bỏ Nhà nước về

Hôn cô ~~ hôn cổ hôn cố, cố hôn ~~ cửa chính vẫn đóng

Năm phút nữa ~~ đổi mới ~~ sang màn nóng

Mặt nạ của cô ~~ từ cổ trở lên~~ Xã Hội lung linh

Rơi xuống ~~ hồn lơ lửng dưới vai chiều ~~ nhưng nơi nhà chứa Bắc Kinh

Năm phút nữa ~~ khi thấy tiền Chính phủ ~~ giá nào cũng không khá

Quần lót của cô ~~ nơi vùng quy hoạch ~~ nhuốm màu đỏ, rùng mình

Tuột xuống sàn nhà ~~ ngay đầu dân ~~ Chế Độ ni đêm đã kỷ lục thế giới

Vào phút thứ ba ~~ chấm dứt cuộc dạo đầu~~ với uất ức căng, tình tức tưởi

Một khán giả ~~ cán bộ và kẻ sĩ phụ khoa~đi biểu tình ~~ âm hộ ca

Chậm chạp bước qua ~~ qua Cầu Khỉ, khỉ im lặng ~~ lịch sử quáng gà

Tách họ ra ~~ Long Lanh to tiếng ~~ sao man rợ mãi thế!

Bằng nỗi bi quan lan tỏa của mình.~~ rung cả thế giới ~~ Đồ~~(tệ hơn) Cu Ba!

Vài nhận xét về cấu trúc theo kỹ thuật Tạo Tuyến trên:

1. Cách sáng tác: Tác giả tuyến 1: Đức Tùng. Tác giả tuyến 2 và tác giả tuyến 3 là một người khác (độc đảng chuyển thành đa đảng). Bài trên vẫn còn ở dạng thô với câu cú có thể lệch ý vì tác giả tuyến 1 vẫn chưa hề biết có tuyến 2, tuyến 3 thêm vào. Nếu có trao đổi giữa các tác giả, cấu trúc bài trên chắc chắn sẽ ăn khớp hơn.

2. Cách đọc: Có nhiều cách đọc giữa các tuyến. Nối tuyến này với tuyến khác, bỏ tuyến này chọn tuyến kia hay tự thêm vào cho mình một tuyến khác. Thí dụ đọc: "Anh sắp sửa bỏ Nhà nước" thay vì "Anh sắp sửa, thứ sáu đã là muộn, bỏ Nhà nước"; "Mặt nạ của cô: Xã Hội lung linh"; "Quần lót của cô nhuốm màu đỏ, rùng mình" v.v…

3. Cách thưởng thức: Vẫn giữ được nguyên bản của người khác và tại sao không tự thêm một tuyến của riêng mình bên cạnh các tuyến đã sắp sẵn sự gợi ý kia.

B. THƠ VIỆT NAM HÔM NAY

 Khi nói về kỹ thuật tạo tuyến, chúng ta đã đặt phần tư duy trong cấu trúc thơ Việt bên cạnh vài lý thuyết tiêu biểu hoặc song song với vài luồng nghệ thuật lớn của thế giới và thấy giữa chúng không có khoảng cách quan trọng. Nhưng tại sao thơ đang mất dần bản sắc riêng cùng sự hấp dẫn trong truyền thông hiện nay? Có vài lý do:

1. Không có nội thức thì không có feeling~vô thức

Đó là hiện tượng sáng tác không cần biết thơ đến từ đâu nghĩa là chỉ chính mình sản xuất thơ từ đầu đến cuối. Thơ ở đây như văn vần văn xuôi biến dạng. Người đọc chỉ có hiểu hoặc không hiểu chứ không có chuyện feeling ở đây (tìm thấy được cảm giác nào đó.). Chúng ta muốn cấu trúc văn bản của thơ ra sao cũng được nhưng phải hiểu là hệ truyền thông của thơ khác hệ với văn và phóng sự. Feeling ở thơ là feeling nội thức làm lay động tinh thần chứ không phải feeling giả tạo do lý trí xếp đặt nhằm mua chuộc sự cảm động lẫn nể nang của người đọc. Nói về lý trí xếp đặt thì chúng ta thường thấy có hai mánh lới: Một là hạ cấp người xuống cảnh vật của loài thấp hơn như cỏ cây sông núi thú vật, để gợi sự thương hại, tội nghiệp và cảm động (kiểu sỏi đá biết yêu). Hai là nâng người lên bậc thần thánh (Kiểu Tố Hữu ca ngợi Stalin, Mao Trạch Đông) để người khác có cảm giác ngất ngây và thán phục mình.

2. Chủ quan quá (tự hóa thành nhà thơ)

Chúng ta đã nói nhiều về hệ quả tai hại của tính chủ quan ngay từ đầu bài. Những kiểu cách tân dựa trên may rủi (không lý thuyết) thường ở dạng này. Ngoài những lý do tâng bốc thành nổi tiếng thì hầu hết những bài thơ sáng tác dễ dãi (cẩu thả), những tập thơ in vội vã và những nhà thơ mang sứ mạng hay tự mang sứ mạng nào đó đều là nạn nhân rất thê thảm của tính chủ quan này. Bản chất chủ quan như bản năng thú vật, kiểu “văn mình, vợ người”, chúng ta cần văn minh và tư duy hóa nó thành nghệ thuật.

3. Ngôn từ hạ xuống cấp bản năng

Đã trải qua thời ăn lông ở lỗ. Tư duy con người hôm nay không những đã không còn loay hoay về chuyện vệ sinh, sinh lý mà nó đã đạt đến lý luận và nghệ thuật. Như vậy những ngôn từ chỉ bản năng sinh lý đã an phận, có nghĩa là chúng đã qua thời gợi sáng tạo và ứng dụng để trở thành ngôn từ dễ dãi và phổ thông ở lứa tuổi mười hai, mười ba. Ngoại trừ ở tuổi đôi mươi đùa nghịch, nếu chúng ta quay lại sử dụng chúng để biểu lộ tư duy thì dù biện hộ cách nào đi nữa thì đó cũng chỉ là lông lỗ của người mà óc não của ta.

Ba lý do trên chỉ có ý nói về hiện tượng nhất thời và bề mặt của thơ Việt Nam trong giai đoạn này. Để kéo sự hấp dẫn của thơ trở về, đơn giản và thực tế nhất cơ thể là xin các nhà thơ có thơ đăng trên cõi Hội Ngộ Văn Học này hãy chỉ ra cho mọi người học hỏi phần kỹ thuật mà quí vị đã dùng để sáng tác chúng.

 

Montréal, 30/5/2008

Khải Minh


Bài đã đăng của Khải Minh

2 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Tôi có cảm giác ông Khải Minh này hơi bị… hâm. Ông ấy viết lăng nhăng quàng xiên, sai lung tung cả lên, mâu thuẫn loạn xị cả lên.

Trần Thuý Lan

Cảm ơn Trần Thúy Lan đã khen hâm làm KM lại được một lần bật cười. Mà nếu không vậy thì làm sao có thơ mới chứ?

Mình cũng có cảm giác Trần Thúy Lan chưa nói gì cả.

Trần Thúy Lan Trần Thúy Lan
Lăng nhăng chỗ nào lại không nói
Quàng xiên làm sao? Cũng lặng mang
trong Trần Thúy chắc có nhiều Lan nữa
nên phán “sai
lung tung cả lên”

Bao giờ Lan chỉ một Thúy Lan?
Bao giờ mơ hồ thơ sẽ tan?
người ấy đã đến và ngày ấy
“Lăng nhăng quàng xiên” lộ sắc mộng
Sai-Đúng không còn
hờn dỗi (mâu thuẫn) thơ.

Khải Minh