Trần Thiện Huy: Thơ hiện đại – Xấu xí, phi lý, và vô nghĩa?

Trần Thiện Huy

Thơ hiện đại – Xấu xí, phi lý, và vô nghĩa?


Trần gian là thế đấy ư?

Vậy thì, lại một lần nữa đi!

(“Zarathustra” – Nietzsche)


Mấy hôm trước lỡ dại nói chuyện thơ với biên tập viên – nhà thơ Đỗ Quyên, tôi liền bị phân công viết ngay một tiểu luận về thơ. Chẳng biết có phải anh Đỗ Quyên muốn tập cho tôi tính cẩn thận hơn khi lần sau mở miệng nói về một chuyện mình không biết chăng, vì thật sự anh biết rất rõ là tôi không có nghiên cứu về thơ, dù, cũng như những độc giả quan tâm đến các biến chuyển của văn học trung bình khác, tôi cũng có đọc thơ đôi khi. Hơn nữa, cứ theo như ý kiến mới đây nhất của nhà thơ Nguyễn Đình Chính cho biết, thì ít nhất đã phải có 70 cuốn sách trong lãnh vực lý thuyết thơ hậu hiện đại mà thôi; và ngay cả xung quanh hai bài thơ của chính ông, cũng có rất nhiều phản hồi gần như đã đại biểu cho mọi góc độ. Trong hoàn cảnh ấy, không dễ cho tôi phát biểu một điều gì mà không trùng hợp lại với ý tuởng của người khác, lại còn có thể là một ý tưởng rất sơ đẳng và phổ cập với sự hiểu biết của độc giả.

Nói như thế, không phải tôi cho là thơ hiện đại đã đánh mất sự thu hút và không còn ý nghĩa đối với nhà phê bình. Những gì đã được nói ra có lẽ chỉ là những gì có thể được nói ra; đối với chúng ta, thơ hiện đại vẫn là một miền hoang hư kỳ ảo đầy những sinh vật kỳ lạ, mỗi loài có tiếng nói riêng của chính mình. Những mỏm đá, bãi hoang, những dòng sông, vũng lầy của nó biến hình liên tục truớc mắt nguời đọc, và bên ngoài phần lãnh thổ nhỏ nhoi đã có một dạng bản đồ tuơng đối khả dĩ, miền đất ấy vẫn thách đố chúng ta giải thích những đỉnh cao bí hiểm, cũng như những lối ngầm tối tăm của nó, và đứng truớc miền đất này, độc giả chúng ta lập lại những băn khoăn mà nguời Ấn Độ cổ xưa đã đặt vào lời nói của nữ thần Devi:

Hỡi Shiva, đâu mới là thực tại của người?

Vũ trụ đầy kỳ diệu này thực ra là gì?

Cái gì tạo thành chủng tử?

Ai làm trụ quay cho bánh xe toàn thể?

Cái gì là sự sống cao hơn hình tướng và nằm trong mọi hình tướng?

Làm thế nào người ta buớc hoàn toàn vào nó,

trên cả không gian và thời gian

tên gọi và mô tả?

Hãy giải trừ nghi vấn của ta!

Đến đây tôi bỗng gặp phải một cảm giác ngờ ngợ kỳ lạ, như mình vừa tìm thấy một điều gì phảng phất quen thuộc. Sực nhận ra, đã có những ý niệm khác tồn tại song song giữa thế giới của văn minh Ấn Độ cổ đại, và thơ ca của chúng ta ngày nay. Chúng ta đang tranh cãi về những điều mà có lẽ đã được tranh cãi từ ngàn xưa, vì cội cây trí tuệ được loài nguời thừa kế mỗi mùa sẽ phải ra trái lại một lần. Nhất là trong thời đại của chúng ta, không phải thiếu lý do để được coi là “thời của các tiên tri giả”, khi những ảo tuởng, dối trá và những chân lý xương máu có hàng ngàn năm tuổi va chạm quyết liệt với những gì mới mẻ – cũng bao gồm cả dối trá và chân lý trộn lẫn – chúng ta không thể tìm chỗ trú ẩn trong bất cứ sự khôn ngoan ước lệ nào, nhưng cũng cần được nhắc nhở là không một tập thể nào trong lịch sử lại đơn độc hay đặc thù trong việc khám phá các ý nghĩa bất tận của cuộc đời.

Đặc biệt, chính từ một thảo luận trong môi trường diễn đàn Hội Luận này gợi ngay cho tôi đến ý tưởng đặt song song ý tuởng của hai thời đại, không phải để so sánh – một việc làm muôn đời khập khiễng – mà để đạt đến một thái độ cảm thông muôn đời vốn là hành trang và nhu cầu thiết yếu nhất của sự phê bình. Mấy ngàn năm truớc khi Nguyễn Đình Chính viết những dòng này:

ối thơ ơi là thơ

cục cứt nát bay đi đâu bay giờ

cục cứt nát chỉ có chóp

cục cứt nát thì làm gì có cánh

giao hợp đi đồng bào ơi

phóng đạn tinh trùng

săn lùng tổ quốc

(những dòng mà chính tôi cũng còn ngại không muốn ghi lại), các bậc hiền giả của Ấn  Độ đã kiến giải như sau về con đường giác ngộ:

“Người khôn ngoan nên giải trừ những uế tạp trong tâm trí mình bằng sự uế tạp… con người phải vươn lên bằng chính cái mà qua đó mình đã ngã xuống.” (Hevajra Tantra). Kinh Candamaharosana Tantra liệt kê những tế vật mà hiền giả đuợc dâng cúng và phải thụ dụng (mà người viết bài này chỉ dám trích dẫn một ít, để khỏi xúc phạm quá mức đến sự nhạy cảm của con người văn minh: phân, nước tiểu, nước bọt, nước rửa chén, đồ nôn mửa… Những kẻ “biến phân và nước tiểu thành vật thực, sẽ đạt đuợc cực lạc”, kinh Guhyasamaja Tantra hứa hẹn. Ta tạm dừng lại ở sự trùng hợp về chất liệu sống đuợc hai thế hệ, hai nhân cách khác biệt nhau sử dụng để tạo ra hai ý nghĩa khác biệt; những ý nghĩa này sẽ trở lại với chúng ta một cách tự nhiên hơn là sự phân tích, thông diễn (hermeneutic) theo cái hiểu cá nhân hạn hẹp, và dĩ nhiên, có phần khiên cưỡng của người viết bài.[1]

Có lẽ sau hơn mấy trăm năm giáo dục Nho gia, và một thế kỷ của cái mà Foucault gọi là “bio-politics” nhập cảng từ phương Tây, ở một đất nước xa lạ với Ấn Độ, chúng ta mới bắt đầu manh nha nhìn nhận một khía cạnh bị ức chế (kể cả trong một chủ đề bị ức chế là tình dục!) – đó là những hình ảnh xấu xí và “ô uế” gắn liền với sinh lý của tình dục. Và trong một khuôn khổ thi ca, hay bất cứ loại hình văn hoá nào có tính cách tư tưởng, trí thức, những nội dung ấy đều nhận được sự đánh giá rất ư khuôn khổ, “giai cấp” rằng nó tối nghĩa và hỗn độn. Với thái độ cấp tiến, chúng ta có thể khuyến khích những phát biểu mới lạ, hy vọng trong đó có một vài viên ngọc sẽ được đãi ra bởi ai đó, (nhất là trong thời kỳ hậu hiện đại này, khi mà mọi sự tối nghĩa, bí hiểm được hứa hẹn là đều có một ý nghĩa sâu xa cần phải giải mã), nhưng người đó chắc hẳn sẽ không phải là chúng ta. Xa hơn nữa, chúng ta có thể ưa thích những ngôn từ “cứt, cặc, vân vân” như một sự nổi loạn, một thách thức những ngột ngạt của xã hội, nhưng ngay từ chính sự ưa thích đó đã nói lên rằng, người làm thơ, viết văn hay nghị luận kiểu ấy sẽ không dễ gì được coi là bình đẳng và là đồng nghiệp với những nhà thơ lãng mạn, vẫn trung thành với mắt huyền, với mây mùa thu, hoa buổi sớm. Hai loại người viết có hai địa vị xã hội khác nhau; và hai loại ngôn từ cũng theo đó mà không thể đứng chung trong một sự xếp loại. Gạt bỏ đi những yếu tố thời thượng, thơ vẫn là thơ phản kháng đối mặt với thơ chính thống, và sẽ khó có ai nhắc đến Nguyễn Đình Chính hay Bùi Chát, Lý Đợi cùng với Xuân Diệu trong một đoạn văn, nếu không có dụng ý bài bác nào.

Là những người thừa kế những nền văn hoá phát triển cao về truyền thống hành chính, văn hoá Trung Quốc và Âu châu, chúng ta đã quá quen sống với những hình thức kiểm duyệt và lệ thuộc vào sự phán xét của những tiền lệ nó đã tạo ra trong quá khứ [2]. Đối với lãnh vực tình dục, sự kiểm duyệt đã đóng khuôn nó, và những sự phát biểu về nó, trong cái scientia sexualis của Foucault, nghĩa là trong một ý thức hệ thăng hoa, cao cả và lành mạnh đối với sự thăng bằng xã hội. Trong hệ thống ấy, sự diễn đạt những đối tượng “ô uế”, như Freud giải thích, là một sự ngưng cố (fixation) vào những ẩn ức tuổi thơ, mà con người không lớn vượt lên khỏi đó đuợc, một khiếm khuyết hay bệnh lý tồn tại cơ hữu trong con người (dù là trong mọi con người!). Đối lập với nó là cái mà Foucault gọi là ars erotica, của những nền văn hoá như Ấn Độ, tìm đến sự chuyển đổi ý thức cố hữu cho con người, sự giải trừ tri kiến, tìm về cội nguồn những quy luật lớn lao hơn của sự sống. Đối với họ, mọi hình tướng đều là hư ảo, và mọi pháp đều bình đẳng; mỗi hiện tượng đều chứa đựng cái toàn thể và không có gì tồn tại ở bên ngoài bất cứ hiện tuợng nào. Tinh thần trực quan, chỉ chứng, Tat tvam asi (Ngươi là y như thế) của họ đuợc đại chúng hoá qua cách diễn đạt nổi tiếng của Thiền học: “Phật (hay vô vị chân nhân, Tạ Tốn, tùy theo ngữ cảnh) hay cục phân bò cũng thế, chẳng khác gì nhau”.

Đối với tôi, thơ của chúng ta ngày nay vẫn chưa đi đến chỗ đó, dù rằng tương lai của nó đi về đâu vẫn chỉ là sự phỏng đoán của mọi người. Khi Nguyễn Đình Chính viết “phóng đạn tinh trùng, săn lùng tổ quốc”, ông đã nghĩ đến “tổ quốc” trước rồi mới nghĩ đến “tinh trùng”, sự khác biệt giữa chủ đề và tu từ. Có lẽ đó chính là lý do làm nhiều người ghét thơ ông và nhiều người ủng hộ, vì thái độ chính trị, vì quan điểm văn nghệ. Ở đây, sự “dơ bẩn” và sự “vô nghĩa” lại hơi có chiều hướng trái ngược nhau; một diễn ngôn chính trị-xã hội quá rõ ràng chính là cái làm cho thơ Nguyễn Đình Chính “dơ bẩn” và xúc phạm với nhiều người. Cũng vậy, “cứt” chẳng qua chỉ là một phương tiện cho ông diễn đạt sự thất vọng với “thơ” hay nghiệp thơ. Ý nghĩa ở đây chẳng có gì mới lạ hay lập dị; chúng ta nhận ra nó ngay, và chúng ta căm ghét hay ủng hộ nó vì thế. Có thể nói, chúng ta đã bắt đầu he hé mở cánh cửa đã bị đóng chặt sau lưng những người Ấn Độ kia, và đã ghé mắt nhìn vào, lợi dụng chút ánh sáng từ bên ngoài, nhưng không biết đến bao giờ chúng ta mới dám bước hẳn vào trong ấy và phát hiện ra cái nửa còn lại của thế giới biến mất từ lâu dưới cái nhìn của chúng ta, bị nhấn chìm trong vùng đen vô thức và chỉ trong các giấc mơ về đêm mới hiện được ra dưới những hình ảnh biến dạng, huyễn tưởng mơ hồ.

Thử nhìn thêm vào một vài ví dụ khác, mà tôi đã vội vàng thu thập đuợc khi chuẩn bị bài này:

Những lời văn gây sốc vang lên như những cái đập đầu vô vọng vào bức tường kiêng kị trong tính dục; âm điệu và ngôn ngữ của một nhân cách thơ trong cơn điên loạn, cọ xát lý trí để tìm cảm giác tối đa:

hay tôi đưa em ra thị nghè đêm ba mươi. để em dạng cẳng làm thi sĩ. để là chính mình trong các câu thơ tứ tuyệt. để em chảy máu sau mỗi một bài thơ.

(“Tôi còn nứng, tôi cứ chơi” – Lynh Bacardi)

Tiếng rên rỉ dòng nước trắng ứ bầu vú.

Em vật vã cánh cửa mình chưa kịp khép kìa…

(“Chở thuê” – Lynh Bacardi)

Hay dòng “chửi” từ đó tuôn ra những âm thanh chen lấn, ồ ạt đến nghẹn cổ trong cơn tức giận lồng lộn:

Và ngày mai lại biểu tình nứng (…) cùng một bìu.

(“Cặc đương thời” – Nguyễn Quốc Chánh)

Thơ của Nguyễn Đình Chính, của Lynh Bacardi, của Nguyễn Quốc Chánh đã thực hiện được tác động công phá ít nhiều vào bức tường thành ngôn ngữ và ý thức của con người Việt Nam, bên cạnh những công phá vào thượng tầng chính trị và luân lý/ xã hội. Chúng ta, trong những giây phút công bình và khai phóng nhất của mình, nhớ đến họ, và dành cho họ sự tôn trọng có thể như đối với những con người bức xúc đến mức phẫn uất truớc cái ngột ngạt đè nén có thể mang hay không mang một khuôn mặt. Rồi sau họ một ngày nào đó sẽ có những thử nghiệm mới, những thách thức mới nhằm thẳng vào ý thức văn minh của chúng ta, buộc chúng ta phải nhìn nhận những đối tượng “tục tĩu”, không phải chỉ là ẩn dụ, mà là những thực tế sống động, bị che dấu, sợ hãi lâu nay. Để làm gì, một sự chuyển biến mà gần như không có gì khác hơn là “nói tục” vô tội vạ trong thơ, một sự nói tục mà thế hệ Nguyễn Đình Chính có khi không hình dung nổi vì nó chẳng nhằm “đập phá” cái gì cả? Hẳn là nó sẽ đưa đến gần hơn với lý tưởng của thơ ca, là một ngôn ngữ trong vắt của một thế giới không ai đến đuợc, một ngôn ngữ mà sau khi mọi xung động đã trầm lắng xuống, vẫn giữ được âm điệu an nhiên tự tại và bao dung.

Có lẽ còn lâu lắm chúng ta mới vòng trở lại được đến chỗ cái hồn nhiên quái quỷ của Nguyễn Đức Sơn:

Anh đứng đó cởi quần cho em đái,

Đái đi em, đái nữa đi em.

Ôi, em chưa đái mà lòng anh đã ướt.

(Người viết chép từ trí nhớ, không nhớ tên bài thơ cũng như không chắc lắm về ngôn từ chính xác).

Dĩ nhiên, Nguyễn Đức Sơn cũng muốn tạo ra một phát biểu đối kháng (dù là nhẹ nhàng) với những quy ước xã hội. Dĩ nhiên, đó cũng không phải là một cảnh tượng trực quan, một phát ngôn chỉ chứng. Nhưng người ta tuởng tuợng rằng cái cảnh ấy rất thật trong đầu óc ông chứ không phải một ẩn dụ, rằng nếu tìm được một “em” nào cho phép, ông sẽ làm thế thật, và rằng có lẽ trên một cõi địa đàng nào đó, có lẽ có những cặp tình nhân đang thản nhiên làm điều ấy trước con mắt rình trộm của nhà thơ. Những sự “ô uế” tồn tại trong trạng thái rất tự nhiên, không mang theo một giá trị luân lý nào, một phản xạ có điều kiện nào được ghi sẵn vào não trạng. Ở đây người ta cuời, rất ngô nghê nhưng cũng rất thoải mái, như trong những khung cảnh sung suớng và yêu đương thời nguyên thủy. Nó gợi nhớ lại cái trâng tráo trinh bạch, cái tự nhiên tính trong ca dao cổ:

Hôm qua lên núi hái chè,

Gặp thằng phải gió….

Lịch sử kể rằng, tại các thành phố Rome và Pompeii cổ, người ta dựng bên đường những tuợng dương vật thẳng đứng, dưới có khắc dòng chữ: HIC HABITAS FELICITAS (hạnh phúc cư trú ở đây). Có một khuynh hướng vẫn đi theo loài người từ những nền văn minh cổ xưa đến bây giờ, đó là sự hoài niệm trạng thái nguyên sơ, niềm hạnh phúc viên mãn giữa cái Đại tự nhiên không nảy sinh một ý niệm phân biệt. Không ai biết được trên thực tế, những trạng thái ấy có nhất thiết đối lập với sự nhạy cảm văn minh của chúng ta, quan niệm lành mạnh xã hội của chúng ta; vì vậy, không một sự lãng mạn nào kêu gọi sự hủy bỏ những nguyên tắc, mực thước trong ngôn ngữ xã hội hoá, quy ước hoá. Nhưng thơ ít nhiều là kẻ kế thừa của những chủ nghĩa bí nhiệm; nó luôn hoài nghi mọi sự áp đặt và mọi hình tướng, và dù đang ở trên chặng đường nào, thì đích cuối cùng của nó cũng hướng về sự thanh thản và phóng nhiệm của con nguời. Xét nghĩ không nhà thơ nào cho rằng cứu cánh của mình là làm “dơ bẩn” ngôn ngữ như nhiều người đã phê phán; có thể nói, trên con đường mà ngày xưa các đạo sỹ Ấn Độ cổ đã đi để đến nơi gặp gỡ một ý thức mới, các nhà thơ của chúng ta ngày nay có vẻ như đang đập phá và công kích một cách quá khích, chính là vì từ bấy đến nay, lịch sử đã dựng nên vô số những chướng ngại dọc đuờng. Tôi tin là cần phải cho họ thời gian, và như trên đã nói, khi những mâu thuẫn đã lắng dịu trong tâm hồn, thì thơ đã trở nên trong suốt hơn và sẽ phản ánh rất chân thật sự bình an và khát khao cuộc sống mà nhà thơ và những người đọc kiên nhẫn vừa mới tìm thấy đuợc.  

Houston, 28/5/2008



________

[1] Người đọc có thể dễ dàng tìm thấy khắp nơi những ví dụ trong sự tế tự của Ấn Độ cổ xưa, và một hoá thân của nó là Mật tông Tây tạng, về việc sử dụng những biểu tượng từ kém thanh khiết đến dơ bẩn, cả trong nghi lễ lẫn trong nhân thân của các vị thần, được coi như những ẩn dụ về vũ trụ và về con người đúng nghĩa. Chẳng hạn như sự tôn thờ nhóm nữ thần đuợc gọi chung là mười vị Mahavidyas, hình dáng xấu xí, hung dữ, và có những hành vi gắn liền với sự dơ bẩn, thấp kém, vô luân theo quan niệm văn minh. (Kinsley, David. The Ten Mahavidyas, Berkeley, 1997)

Trong Phật giáo Tây Tạng, Ngũ trí Như lai cũng được liên hệ với năm thứ “vật thực” ô uế: Bảo Sanh Phật với máu, Vô Luợng Quang Phật với tinh dịch, Bất Không Thành Tựu Phật với thịt người, Bất Động Phật với nước tiểu, Đại Nhật Phật với phân. (Wayman, Alex, The Buddhist Tantras: Light on Indo-Tibetan Esotericism, New York 1973)

[2] Tuy nhiên, cũng nền văn hoá ấy đã hun đúc một phong thái phản kháng luôn tiềm ẩn trong cung cách kẻ sỹ, và biểu lộ qua nhiều tài năng sáng chói nhất của nó – phong thái ngông ngạo, phá cách xen lẫn chua chát, tuyệt vọng. Chẳng hạn như phong thái của Nguyễn Hữu Huân trong bài thơ vĩnh biệt: “Phản thần, đ.m. đứa cười ông”. Văn học hiện đại của chúng ta có lẽ là một mảnh đất rất tốt cho hạt giống ấy từ những mùa trái quá khứ nảy mầm.

 


Bài đã đăng của Trần Thiện Huy

15 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Chào anh Trần Thiện Huy,

Tôi đã đọc một số bài viết của anh, bút lực mạnh mẽ, ngữ ngôn mới lạ, tri thức phong phú, thực là hâm mộ.

Chỉ là ở đây, câu thơ của Nguyễn Đức Sơn:

Anh đứng đó cởi quần cho em đái,
Đái đi em, đái nữa đi em.
Ôi, em chưa đái mà lòng anh đã ướt.

Tôi đã đọc mấy câu thơ trên nhiều, nhiều lần để cố tìm cái “hồn nhiên quái quỷ” của Nguyễn Đức Sơn (như lời bình của anh), cũng cố tìm mối quan hệ xa gần từ câu thơ trên với câu ca dao cổ mà anh gọi là “cái trâng tráo trinh bạch, cái tự nhiên tính” nhưng không thấy nên không thể đồng tình với anh. Câu ca dao mang “tự nhiên tính” và đúng là “trân tráo trinh bạch”, nhưng còn ý tưởng trong câu thơ của Nguyễn Đức Sơn, với tôi, ẩn giấu ít nhiều bệnh hoạn. Cũng dựa vào ý kiến của anh “rằng nếu tìm được một “em” nào cho phép, ông sẽ làm thế thật”, thì xin hỏi anh thế là “bình thường tự nhiên hay hoang tưởng bệnh lý“. Câu chữ mang “mầm bệnh”, lột tả một hành động, một khát vọng “cởi quần cho em đái” thì sao gọi là thơ, là hồn nhiên như thể. Câu thứ 3 “ Ôi, em chưa đái mà lòng anh đã ướt” thì dù có hoang đường lãng mạn bao nhiêu cũng không thể không nghĩ đến một dục niệm, một vọng động của thân xác nên càng “tội chưa tề”!
Nếu tôi không lầm, NĐS bây giờ đã nhập thiền, cho nên, chuyện không cần nói nữa. Thơ “hay” thì thật không thể đem cái tôi riêng tư kỳ quặc của mình mà buộc “thiên hạ hà nhân” đồng cảm xẻ chia.
Là chia với anh một chút tâm tình! Chúc anh vui vẻ!

Vĩnh Phúc

Thay mặt cho nhà thơ muôn thuở giải trừ nghi vấn cho Thiện Huy:
“Hỡi Shiva, đâu mới là thực tại của người?”

– Chắc ngươi chẳng còn muốn như “cây sậy biết nghĩ” (Pascal) hay một thuở “cognito ego sum” (Descartes). Vậy thực tại của người là “sống~~thử thách~~sáng tạo”. Thực tại bi đát là phải sống cuộc sống không ra kiếp người. Thực tại khổ nhục là tàn tạ trong thử thách và thực tại người muốn hỏi là sáng tạo. Hãy sáng tạo ra thực tại của ngươi ở dạng Truyền Thông.
“Vũ trụ đầy kỳ diệu này thực ra là gì?”
– Đó là chút dấu vết của sáng tạo.
“Cái gì tạo thành chủng tử?”
– Các triết gia nói đó là cái gì đó ở ngoài hệ chủng tử như Thượng Đế, Tư Tưởng… Còn ta, chủng tử chính là thơ. Hãy sáng tạo một bài thơ để suy ra chủng từ đâu đến đây lan tràn vũ trụ.
“Ai làm trụ quay cho bánh xe toàn thể?”
– Các khoa học gia nói đó là năng lượng, là lực này lực kia nhưng ta thấy trụ quay kia chính là tâm trí ngươi. Hãy chiết một chút tư duy gắn vào vần Bằng-Trắc, tách một chút hồn gắn vào Nhịp Điệu… và người sẽ thấy vần điệu quay cuồng đến độ không còn thấy chúng cụ thể bằng mắt (như không còn thấy cánh quạt máy khi quay nhanh).
“Cái gì là sự sống cao hơn hình tướng và nằm trong mọi hình tướng?”
– Đó là Truyền Thông vừa biến chuyển vừa tạo tác từ chính biến chuyển này giữa ngươi và cảnh vật thời thế.
“Làm thế nào người ta buớc hoàn toàn vào nó,
trên cả không gian và thời gian, tên gọi và mô tả?”
– Không thể bước hoàn toàn vào bất cứ cái gì trong vận hành của Truyền Thông. Ngươi không thể bước vảo một bông hoa và hoa cũng không tan hóa vào ngươi. Hãy hẹn gặp gỡ với bông hoa này ở nơi nào đó, hoa sẽ truyền thông với ngươi bằng hương sắc không gian, ngươi sẽ truyền thông với thơ bằng tâm tưởng thời thế và rồi người ta sẽ có bằng chứng về sự hiện hữu lẫn thực tại của “Thơ~~Hoa~~Ngươi”.

__________________
Bây giờ Thiện Huy hãy
Hãy giải trừ nghi vấn của ta!

1. Cách đây mấy ngàn năm đã có bài giảng “giải trừ những uế tạp trong tâm trí mình bằng sự uế tạp”
(thì hãy dùng cứt để cứt không còn là cứt). Chắc Thiện Huy có ý chê thơ cứt thơ cũ là cũ.

2. Cách đây mấy thế kỷ Lão Tử không giảng mà phán: “Danh khả danh phi thường danh” (thí dụ nếu cái gì gọi được là cứt thì đó không phải là cứt mà là Nguyễn Đình Chính chẳng hạn). Chắc Thiện Huy biện hộ dùm ai chăng?

3. Cách đây mấy ngày, Thiện Huy nghi vấn: “Thơ hiện đại – Xấu xí, phi lý, và vô nghĩa?” rồi nói khơi khơi sang chuyện khác thay vì thêm vào tính từ cũ kỹ như ý toàn thể bài viết.

Vậy có phải:

1. Thiện Huy phê bình cách dùng các từ ngữ ở cấp bản năng sinh lý trong thơ Việt Nam hôm nay là cũ kỹ cổ lỗ, tư duy chậm lụt mấy ngàn năm so với thời thượng cổ Ấn Độ hay không?
Nếu có ít nhiều thì Thiện Huy có mường tượng ra lối thoát nào đó cho chủng tử thi sĩ khỏi bị diệt chủng hay không?
Nếu Thiện Huy trả lời, chúng ta sẽ có câu hỏi kế tiếp.

Khải Minh

Trần Thiện Huy

Xin rất cảm ơn hai bạn Vĩnh Phúc và Khải Minh đã có sự quan tâm đặc biệt đến bài viết ngắn ở trên. Hôm nay xin trả lời comment của Vĩnh Phúc trước, vì trả lời một tham luận sâu sắc như của Khải Minh là việc không ai có thể làm nhanh chóng được.

Đọc thơ như thế nào là nằm trong sự liên tưởng của mỗi người với những kinh nghiệm cá nhân. Nhờ có câu hỏi của Vĩnh Phúc mà tôi có dịp tự xét lại cảm nhận của chính mình với câu thơ của Nguyễn Đức Sơn. Có lẽ vì cái gốc Phân tâm học nghiệp dư của mình, nên khi đọc mấy câu thơ của ông, tôi liên tưởng ngay đến những trò chơi giữa hai đứa trẻ con, khi sự chú ý đến những chức năng “tục” của cơ thể là một phát triển rất trong trắng và lành mạnh của tâm sinh lý. Chịu khó quan sát, chúng ta sẽ thấy những hình ảnh như vậy xuất hiện khá thường trong tình bạn tự nhiên, khi không bị giám sát giữa trẻ con, và với tôi, những câu thơ ấy gợi lại hình ảnh một trò chơi, một ngây thơ rất thật trong cuộc đời mà chúng ta khi lớn lên không còn muốn hồi tưởng lại.

Khi viết rằng, giá có em nào chịu thì ông cũng làm, không có nghĩa là tôi cho rằng Nguyễn Đức Sơn luẩn quẩn trong những ảo tưởng tình dục không có chỗ thoả mãn như vậy. Tôi chỉ nghĩ rằng ông thấy đó là một cái gì rất tự nhiên, mà nó không thể xảy ra vì những sự cấm kỵ của giáo dục văn hoá. Tôi nghĩ là ông có ý đi tìm một con người sẽ sống với ông cuộc đời nguyên thủy, chấp nhận cuộc sống như tự nó, cả những mặt trừu tượng thiêng liêng cũng như mặt dung tục gần gũi. Nguyễn Đức Sơn hẳn là trân trọng cả giọt nước mắt của người yêu lẫn chuyện “ấy” mà chúng ta đang nhắc đến, nhưng dù sao cũng đã có nhiều người miêu tả “em chưa khóc mà lòng anh đã ướt” rồi.

Dĩ nhiên, làm thơ là một nghệ thuật của các thủ pháp, và có lẽ Nguyễn Đức Sơn ở đây đã phóng đại cái khía cạnh dung tục qua khỏi mức mà chính ông tự cho là cần thiết. Tuy nhiên, trừ câu “lòng anh đã ướt” mà tôi cố ý hiểu theo một cách lãng mạn, không mang màu sắc sinh lý, tôi cảm thấy ngôn ngữ của ông rất nhẹ nhàng như kể một câu chuyện, chứ không thấy nặng nề ẩn ức, nặng nề những hình ảnh va chạm, những biểu hiện tiết dục. Nhưng cách của tôi hiểu một bài thơ chỉ nói lên được những kinh nghiệm sống của chính tôi, tự nó về định nghĩa đã đầy giới hạn, nên tôi lúc nào cũng rất thú vị được nghe những sự mổ xẻ khác, để nhận ra những gì mình chưa nhìn thấy, hay cố ý không nhìn thấy không chừng.

Trần Thiện Huy

Chào anh,

Chỉ là những trao đổi cởi mở và thú vị. Chúng ta có quyền sáng tác và cảm nhận thơ một cách tự do nhất; từ đó mà có nhiều trường phái, nhiều tranh chấp tranh luận , nhiều “gout” thưởng thức đối nghịch…
Phải chăng từ những câu thơ như thế mà anh đã tự hỏi mình và bạn đọc “Thơ hiện đại – Xấu xí, phi lý và vô nghĩa?”?

Vĩnh Phúc

Thiện Huy đã viết trong câu kết: “…hay cố ý không nhìn thấy không chừng” thay vì viết “…hay cố ý “nhìn-không-thấy” không chừng (nghĩa là đã “nhìn thấy” nhưng cố ý chủ quan là “không thấy”).

Cũng vì cách viết phụ bạc này mà Nguyễn Đức Sơn đã bị thơ nhốt vào ngục thiền thăm thẳm lặng im kia. Tại sao gọi là phụ bạc? Tại vì ông ta đã cố ý đem “lòng” tà ra đổi lấy cái “quần” hồn nhiên của thơ. Tội tày trời!

Thơ nguyên thủy là: “Ối, em chưa đái mà quần anh đã ướt” bị Nguyễn Đức Sơn đổi thành “Ôi, em chưa đái mà lòng anh đã ướt”.

Khải Minh đồng ý với Thiện Huy là đọc thoáng qua thì quả thật câu đó rất hồn nhiên. Chỉ khi nghe tin Nguyễn Đức Sơn bị thơ bỏ tù thì mình mới giật mình đọc kỹ lại. Thì ra “lòng” kia quả thật không phải thơ chút nào.

Chỉ có thơ mới làm cho nhà thơ phải dằn vặt và vào tù một cách tự nguyện vì thơ không cho phép dùng chủ quan một cách vô tình hay cố ý mà sáng tác. NĐSơn đã đem cái “quần” hồn nhiên của thơ kia mà thay bằng cái “lòng” chủ quan của mình. Bấy giờ nhìn em đái hay nhìn tường (diện bích) ngôn ngữ
cũng chỉ là thiền chứ không còn làm thơ được nữa.
Có lẽ vì thơ nghiêm quá (càng tục càng nghiêm) nên đa số các nhà thơ của chúng ta đã đứt gánh như NĐSơn hết làm được thơ nữa.

Trần Thiện Huy chọn “quần” hay chọn “lòng” hay thử chọn cái gì đó cho câu thơ của NĐSơn kia? Đứt gánh hay không là khởi sự tại đây đấy!

+++

Thiện Huy đừng trả lời phản hồi thứ nhất của mình cho mệt óc. Những lời đó thiên về triết nhiều hơn là thơ.

Hoặc:

“Anh đứng đó cởi quần cho em đái,

Những câu hỏi ngày trước và muôn thuở đời sau

Đái đi em, đái nữa đi em.

nguồn sảng khoái thoát ra từng thể xác

Đái đi em

Ra khỏi xác là triết trả lời ta

Đái đi em, đái nữa

Cạn cùng uế tạp đái nữa là sáng tạo thơ ca

Ôi, em chưa đái mà quần anh đã ướt!

Huy chưa viết mà Khải Minh đã khiếp”.

Khải Minh

Nguyễn Thị Liên

Ha ha! Nguyễn Đức Sơn “cởi quần cho em đái”. Xong rồi đi, để Vĩnh Phúc cứ đứng lại “đọc”, “đọc” mãi. “Đọc” không chán… Chán quá!

Nguyễn Thị Liên

Hi hi! Vĩnh Phúc “lỡ “đọc” chứ không phải “đọc” mãi và “đọc” không chán… Không biết cô Liên “chán quá” cái gì ạ?

Vĩnh Phúc

Thơ được gom ba hòn làm một, một hòn chia hai theo kiểu billard gom một-hai-ba band thọc gậy thoa lơ kiểu thế này thì cũng chồn chân mỏi cẳng style lên Đèo-Ba-Dội-Hồ-Xuân-Hương một đèo một đèo lại… một đèo mèo đột thì quá ư là bí tỷ hộc hơi!
Ở cái bàn hình oval méo méo như thế này quý vị cứ… đứng cả buổi không chịu ngồi ư? Hãy bỏ cái gậy, ngồi xuống và nghe nhà thơ Dư Thị Hoàn nói: “Rắm ai người ấy ngửi” (ở làng văn-vanchuongviet.org).
Hãy hít thở chút không khí… tự do của mỗi người.

dk_anh

Ngày nay, một vài người muốn và đã làm: thơ tự do, thơ mới, thơ khai phá, thơ thử nghiệm và thơ… loạn cào cào, nhảy tưng tưng như con cóc.

Khách quan nhìn, tôi thấy mọi người đều có quyền tự do sáng tạo. Quan trọng ở điểm, sự sáng tạo của họ sẽ được bao nhiêu người hưởng ứng và bao nhiêu người chê bai? Nhiều người khen, họ sẽ tiếp tục con đường đó; nhiều người chê, họ sẽ tự động rút lui làm kẻ thất bại, vậy thôi!

Chủ quan nhìn, tôi đồng ý với Trần Thiện Huy: xấu xí, phi lý và vô nghĩa. Tôi cũng đồng ý với Dư Thị Hoàn: “Rắm ai người ấy ngửi”. Từ đâu có những loại chữ họ đã dùng? Có phải từ trong đầu óc họ tuôn ra? Như vậy, ai cũng hiểu trong những bộ óc đó đang… chứa đầy những thứ đó. Ai thích ngửi cứ tự nhiên đến ngồi chung trong vuông chiếu đó mà ngửi. Ai sợ hãi cứ tự nhiên lánh xa.

Những bài thơ kiểu “tự do”, ai cũng có thể làm mấy chục bài trong một ngày vì không cần suy nghĩ để chọn ý, chọn chữ, chọn nghĩa, chọn vần. Đã không chọn, dĩ nhiên nó sẽ không có những thứ này.

Mới thì có mới nhưng không hay. Hay thì có hay nhưng không mới. Bạn chọn cách nào đây? Tôi chọn “cái hay”. Giống như những mái tóc thời đại: màu xanh, đỏ, tím… chỉ có bọn trẻ, chưa đủ ý thức, hoặc bọn bụi đời làm theo, chứ người “đủ lớn” có ai tham gia đâu?

Thơ cũng vậy thôi!

Cám ơn Hội Luận Văn Hoc VN đã cho tôi có dịp nói lên cảm tưởng này.

Hồng Hoang

Anh Hồng Hoang,

“Thầy giáo già, con hát trẻ”, anh phê phán bọn trẻ nặng lời quá. Thử chê bọn “đủ lớn” như anh nói đôi điều cho công bằng… Đọc anh, tôi hình dung ra một người độc hành và liên tục đi không bao giờ ngừng lại hoặc đổi hướng trên độc một nẻo đường vô bờ bến nào đó.

Giới thiệu đến anh một người đã và đang đi theo từ 500 trăm năm phát triển nghệ thuật (từ romantisme đến siêu hiện thực đến siêu thực đến Hậu Hiện Đại đến Hậu mọi Chủ Nghĩa hôm nay và ngày mai) bằng những dòng sau:

“… Mang nhiều diện mạo khác nhau, một chủ thể mới xuất hiện trên sân khấu nhân văn (2). Ban đầu là cái tôi lãng mạn được giải phóng khỏi các ách tập tục phong kiến gia trưởng cất tiếng ngợi ca những khao khát tình cảm cùng những lý tưởng tinh thần khoáng đãng. Tiếp đó là cái tôi của chủ nghĩa tượng trưng với những ám ảnh không lời của tâm trạng kẻ mộng du trước các chân trời lạ vừa vén mở. Rồi đến cái tôi siêu thực thám hiểm bề trái và chiều sâu của sự vật cùng ý thức, đùa nghịch với sự ngẫu nhiên khách thể để chụp bắt ánh chớp sáng thế. Còn thêm cái tôi hiện sinh đơn độc dưới bầu trời trống một tay cầm cán cân đạo lý, một tay huơ những vũ khí của diệt chủng và tận thế. Sau cùng là cái tôi vô trụ xứ – kẻ tha hương, lưu đày, lữ khách, di dân – bước qua các lằn ranh của ao làng và tỉnh lẻ để tung hứng tiểu ngã của mình như một hình nộm ngây ngô.

Sau khi khoa học và triết học tuyên bố cái chết của đấng tối cao với mọi thần linh, chủ thể tính hiện đại trở thành thước đo các giá trị, gánh một trách nhiệm bi tráng hơn Prometheus ngày xưa. Do đó, người nghệ sĩ hậu-truyền thống phải chất vấn các thứ ý nghĩa cũng như quan hệ trong đời sống văn hoá – xã hội. Đây là một chủ thể sáng tạo bằng thái độ chủ động về nhận thức không ngừng tra cứu bản chất sự vật. Có thể nói người nghệ sĩ chân chính là một triết gia tự phát đồng thời là nhà thần học của trần gian đã bị tước đoạt hết nhiệm mầu. Đúng như những chữ chói sáng của Rimbaud: “Le poète est vraiment voleur de feu… le grand malade, le grand criminel, le grand maudit, – et le suprême Savant!”

Người đó là Chân Phương trong bài “Cái Mới Đi Về Đâu” ở đây:

http://amvc.free.fr/Damvc/ChanPhuong/LyLuan/ChanPhuongCaiMoiDiVeDau.htm

KM nghĩ nếu Chân Phương đừng mơ hồ hỏi “Cái Mới đi về đâu?” để rồi chạy miết theo cái mà người ta chứng minh là mới, rồi lại cũ; là đúng rồi, lại sai, là có lợi rồi lại có hại để nhìn Chân Phương như một người THEO ĐUỔI nghệ thuật nhiều hơn là SÁNG TẠO.

Theo đuổi hoài hoài tạo ra mệt mỏi và bực bội. Nhất là vừa theo đuổi vừa mang vác một quyển tự điến thời nhị nguyên chỉ có hai từ “dở” với “hay”.

Cái thời “Tôi chọn” hay “Tập thể chọn (conscience collective)” đã chết rồi, chết như Chân Phương hiểu câu “Thượng Đế đã chết” của Nietzsche. Từ Cái “tôi chọn “hay” hoặc “dở” đã chết rồi, chúng ta có thể hình dung ra nhiều tuyến tư duy và hành động, xin gợi ra ba tuyến:

1. Tôi không chấp nhận “cái hay mà tôi đã chọn là đã chết rồi” và tôi bênh vực nó đến cùng.

2. Tôi chấp nhận “cái hay mà tôi đã chọn là đã chết rồi” và tôi thấy rất rõ, rờ mó rất cụ thể cái mới, cái khách quan, cái đa dạng, cái đa nguyên trong tầm tay mình nhưng tôi không thay đổi tôi được (đành thua cuộc vì đủ mọi lý do như Lục Bát, thơ Đường, Tuổi Tác, Văn Hóa, không phải là Đức, không phải là Nga để đổi tư duy, đổi mới, thay chế độ…)

3. Tôi chấp nhận “cái “hay” mà tôi đã chọn là đã chết rồi” và tôi đối diện với thực tại một là chết theo cái hay kia hai là tìm cách tự chuyển đổi để sống còn.

a. Chết theo có nghĩa là ẩn mình, bỏ làm thơ, gác bút sáng tạo.

b. “thời thế tạo anh hùng”: bao nhiêu mộng ước giờ bước vào thử thách và thực hiện.

Trong thực tế, số người đi từ tuyến 1 đến tuyến 3.b. giảm dần từ đông đảo đến chỉ còn một vài. Anh thử đọc Chân Phương xem anh ta đang ở đâu trong 3 tuyến này. Còn tôi thì cũng trả giá trên 10
năm mới chỉ chuyển đổi một chút tư duy và cách sống với môi trường Bắc Mỹ này. Còn biết bao cái mình nhìn thấy rõ mà không thể nào thực hiện được; tại vì đủ thứ như vì gen, vì vô thức, vì quá khứ… đành tự thương xót mình như thương xót Chân Phương làm thơ Lục Bát và thương anh tự chọn cái “hay” vậy.

Khải Minh

Anh Khải Minh,

Tôi cảm thấy rất hân hạnh được anh đọc qua những cảm nghĩ của tôi và cho biết ý kiến của anh. Có thể sẽ có thêm nhiều ý kiến khác của nhiều người khác nữa. Tôi đều cảm thấy hân hạnh hết. Chỉ lo là không ai đọc mình hoặc đọc nhưng bỏ lơ vì chẳng có gì đáng để ý tới. Đồng ý hay phản đối là chuyện dĩ nhiên thôi. Vì mỗi người đang đứng ở một góc độ khác nhau khi nhìn về một điểm. Giống như việc ông bố (Josep Fritzl) bên Austria đã giam con gái ruột (Elizabeth Fritzl) dưới tầng hầm 24 năm để thỏa mãn thú tính. Cô gái sinh đến 7 đứa con… Trong lúc cả thế giới đang nguyền rủa người cha loạn luân vẫn có khoảng 200 lá thư gởi đến tỏ ý thông cảm… rằng, thì, là ông ấy chỉ muốn bảo vệ con gái, sợ nó ra đường bị hư đi. Mong đây chỉ là những lời trao đổi cho một vấn đề chung, không riêng cá nhân một người nào hết.

Hồng Hoang

Chào anh Khải Minh,

Hoan hô tinh thần trung thực và dũng cảm của KM khi viết: “Còn tôi thì cũng trả giá trên 10 năm mới chỉ chuyển đổi một chút tư duy”. Mười năm không phải là nhiều cho một chuyển đổi và cải tạo “cái đầu”!
Nếu người đọc và người viết đều chịu chuyển đổi tư duy, KHÔNG CHẠY THEO và LẬP LẠI CÁI HAY CŨ – hy vọng Thơ Việt Nam của chúng ta sẽ mới và dần dần hay. Mong thay!

Vĩnh Phúc

Xin được hầu kiến đôi dòng:
Thơ dừng lại “tâm trạng”, chưa đạt đến độ tinh lọc, sàng lọc qua màng mỏng “tâm hồn” thì khó nói đến “thơ là thơ” (dù mở rộng biên độ nghĩa đến đâu). Tôi rất kính trọng ý kiến của các anh (không ba phải đâu), vì thơ vốn đa thanh phức điệu như ai đó đã nói, mà mỗi người thì có thể tìm tới cách tiếp cận khác nhau từ vốn văn hoá đọc, vốn sống và sự trải nghiệm, siêu nghiệm, linh nghiệm của bản thân. Cho nên, khó có thể “lấy cái mình thích buộc người khác phải thích như mình”. Dầu vậy, anh có thể “khai phá”, “thể nghiệm” như thế nào nhưng phải đạt đến cái giá trị phổ quát (xin giới hạn trong kênh “siêu thừa nhận” của kẻ đọc biết tiêu hoá) nhưng “tục hoá” phải bằng cái siêu tôi mới may ra “lót ổ” cho thơ và kể cả cho đọc giả.
Thiển ý vậy, xin được chỉ giáo!

Tâm Thành

Trần Thiện Huy

Houston, Ngày 29/06/2008

BBT Hội Luận thân mến!

Nhân vì trong mấy tuần vừa rồi, ngay sau khi nhận được một số comment về bài viết của tôi, tôi lại gặp việc bận đột xuất nên không có thời giờ trả lời. Nếu bây giờ vào comment trong Hội Luận, e rằng đã mất thời gian tính, và làm loãng sự chú ý của mọi người. Tôi nghĩ đi nghĩ lại, đành viết riêng thư này, xin BBT chọn lựa cách đăng tải cho thích hợp (hay không đăng tải cũng không sao).

1/ Xin phép đính chính rằng tựa đề “Thơ hiện đại – xấu xí, phi lý, vô nghĩa?” được đặt ra như một câu hỏi. Đó là câu hỏi của rất nhiều độc giả, trong đó có cả chính tôi. Câu hỏi ấy xuất xứ từ những ý kiến phê bình mặt tiêu cực của hình thức thơ đặc biệt này, và có lẽ, ngay chính những ý kiến phê bình ấy cũng chia ra làm hai loại: khẳng định quyết liệt và đặt cùng câu hỏi với tôi. Cụ thể là những phản hồi về hai bài thơ của Nguyễn Đình Chính. Đứng trước vấn đề nhạy cảm đến nhiều mặt như vậy, tôi không thể xác định ngay tức khắc một quan điểm chỉ dựa trên cảm thụ thẩm mỹ của mình. Và sau khi đã xem xét vài góc độ liên quan, tôi vẫn chưa cho rằng quan điểm của tôi coi như đã xác định. Đây phải là một cuộc thảo luận tiếp tục mở, và cá nhân tôi sẽ đặt dấu chấm hỏi đằng sau những mệnh đề chính mình thu hoạch được sau mỗi bước tìm hiểu.
Cũng xin nói thêm là chữ “hiện đại” mà tôi dùng chỉ có nghĩa là “đương đại”, để tránh lẫn lộn không cần thiết với thuật ngữ về giai đoạn lý thuyết thơ.

2/ Qua cuộc nói chuyện này, tôi cảm thấy như mình đã có vinh dự kết giao với hai bạn Vĩnh Phúc và Khải Minh. Mà chẳng phải mình tôi, có lẽ nhiều độc giả của Hội Luận cũng có cảm giác ấy, vì hai bạn này xuất hiện thường xuyên, nên tự nhiên trong cách nói chuyện của mọi người với hai anh đã có vẻ thoải mái và đỡ dè dặt xã giao hơn với những người khác. Hai anh đã làm cho không khí giữa mọi người trên Hội Luận này xuất hiện một sự thân quen.

Để trả lời bạn Khải Minh vắn tắt, tôi chỉ xin nhắc lại một điều mình đã nói trong bài viết, với một chút ý thêm vào như sau: Theo tôi thì trí tuệ con người giống như một thứ cây, mỗi mùa lại phải ra trái. Thân cây có thể ngày một to lớn, xanh tươi hơn, nhưng không ai ăn trái sót lại từ mùa trước được cả. Đã nói đến trái thì phải chấp nhận chờ đợi từ lúc trái còn xanh. Trong mỗi trái xanh có bao hàm một trái chín đang hình thành. Cho nên trái cũ ư? Trái xanh ư? Tôi không phê phán. Cái tôi e ngại chính là giông bão làm rụng trái, sâu mọt đục ruỗng, hay sự thối rữa đến trước kỳ hạn.

Đọc lại những bài cũ, tôi thấy ít nhất có một người có những ý tưởng tương đồng với tôi, đó là Khánh Phương trong bài “Thơ đương đại thế giới và Việt Nam”. Xin trích:

“Tư tưởng HĐ-HHĐ xuất phát từ Tây Âu, nó thực sự mới mẻ và phá vỡ thế cân bằng duy lý tư biện của triết học cận đại phương Tây, tạo ra tự do, đa tạp và dị biệt trong nhận thức, phù hợp với xã hội công nghệ phương Tây hiện đại, nhưng lại không hề là sự mới mẻ khai sáng gì nếu so sánh với các hệ tư tưởng triết học cổ đại phương Đông như triết học cổ Ấn độ, Phật giáo, Thiền, hay đạo Shinto… Cái mà người ta “lo ngại” về sự phát triển “vô cùng, khó mà định hình được” của thể loại nghệ thuật mang tính ý niệm (conceptual) hay thứ nghệ thuật đồng nhất với chính mọi biểu hiện cuộc sống, thì Phật giáo tóm lược đầy đủ và phổ quát hơn nhiều, chỉ trong một chữ “không”. Cái “khách quan hóa”, ngoại vi, dị biệt, nghịch luận hay “bình đẳng giữa các trò chơi ngôn ngữ”, thì từ hơn một nghìn năm trước, đã được gọi là “chân như”, “tự tính”, “vô ngôn”.”

Mặc dù câu còn lại trong cùng đoạn văn ấy tôi không hoàn toàn đồng ý:

“Như vậy HHĐ không phải là cái “hình dong mờ tỏ” không định dạng và khu biệt được, trước hết trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, dù nó là loại hình mở…”

Đáng lẽ tôi phải đồng ý với quan điểm này lắm mới phải, nhưng tôi vẫn vin vào điều mình đã nói trong bài viết, là những gì chúng ta biết về thơ sẽ nhiều hơn những gì chúng ta nói ra được. Và cũng không kỳ lạ gì khi tôi cho đây là một ý kiến lạc quan…

Chân thành cám ơn BBT.

Trần Thiện Huy

xin chào các anh chị!
không hiểu sao em thấy thơ Hồ Xuân Hương tục thì tục thật nhưng trong cái tục đó lại có cái thanh,còn các câu thơ em vừa đọc lần đầu và chắc sẽ khó để đọc lần nữa mà anh chị vừa up lên thì em thấy ghê quá.Cũng có thể là do em còn quá non kém trong tiếp nhận thơ ca.Chúc các anh chị những gì tốt đẹp nhất.