Nguyễn Trọng Tạo: Thơ và cú đấm vào bức tường ngôn ngữ

 


Rồi bạn sẽ quen dần với thứ ánh sáng u huyền

đang hắt lên từ vết nứt của bức tường ngôn ngữ.

(NTT)
 




Thơ giống như Gió. Không ai biết rõ Gió từ đâu tới và Gió đi về đâu, nhưng ai cũng cảm thấy Gió mang chứa những năng lực huyền bí siêu phàm. Trên lộ trình viễn du vô định, Gió đã tạo ra biết bao hiện tượng lạ lùng khó mà đoán trước. Kito coi Gió là “Thần hồn thiêng liêng”. Trang Tử gọi Gió là “Thế nhạc”. Liệt Tử luyện mình thành Gió vân du đó đây tuỳ thích đến  nỗi  “không biết Gió đi với ta hay ta đi với Gió”.  Thơ cũng mang chứa năng lực huyền bí siêu phàm chẳng khác gì Gió vậy. Thơ làm cho ta vui buồn lúc nào không hay. Thơ làm cho ta thoát ra ngoài tục luỵ phiêu diêu cùng trời đất, hoà nhập với thiên nhiên, hoặc đồng cảm cùng đồng loại. Lắm khi, Thơ còn tạo nên sức mạnh tuồng như mê tín của cả một cộng đồng. Chính vì thế mà Thơ có mặt ở mọi thời, mọi người, mọi nơi. Từ  xưa, Thơ được coi như một tôn giáo và được xếp thứ tư sau Thượng đế và Thánh, Thần.

 

2. Tôi không nghĩ Thơ chỉ dành riêng cho một số người. Không riêng ai độc quyền về Thơ cả, kể cả sự phán xét. Thơ ở trong mỗi người chỉ chờ có dịp là xuất thần. Nhiều người làm thơ là điều tốt trong thiên hạ, bởi vì thơ chỉ có ở chốn thiện tâm. Những vụ án văn chương trong lịch sử hầu hết là xảy ra đối với Thơ, nhưng xét cho cùng đều bị qui tội phạm huý, phạm thượng với cá nhân kẻ cầm quyền hay thể chế chính trị qua sự suy diễn méo mó, và rút cuộc nó trở thành những bài học cho hậu thế cần ứng xử với Thơ một cách tử tế hơn. Đấy cũng là một quan hệ tế nhị giữa người viết và người đọc. Các chủ thể sáng tạo Thơ có tài luôn hướng tới cái mới lạ. Không mới lạ thì không thể gọi là sáng tạo, và chỉ làm nản lòng những người đọc anh minh. Có hiện tượng nhiều nhà thơ trẻ phương Đông hướng về phương Tây và ngược lại, cũng chính là mong muốn hướng tới cái mới lạ. Cần có thái độ bình tĩnh không nên nóng vội phê phán hay phán xét họ. Đấy là dấu hiệu hội nhập thế giới Thơ trong tương lai, nó làm phong phú hơn cho cả phương Đông lẫn phương Tây. Không có ảnh hưởng phương Tây thì không có thành tựu “Thơ mới” Việt Nam những năm 30 thế kỉ qua, cũng như không có ảnh hưởng của Đường-Tống thì không có một thời kì ánh sáng trong thơ Lý-Trần rực rỡ một thời. Sự dung hợp của nhiều nền văn minh đang diễn ra trong thế giới hiện đại, không lẽ gì Thơ tự tách mình ra theo vùng miền hạn hẹp, khư khư phụng thờ vinh quang quá khứ mà không chịu tìm kiếm và làm nên những vinh quang mới? Tôi dám nói là tôi khá chịu đọc những nhà thơ trẻ. Thơ của họ có khi đi xa cái tuổi của họ có, đấy là họ đã huy động được văn hoá đọc, văn hoá sống văn hoá viết trên cơ sở tưởng tượng phong phú và kì lạ của thiên bẩm. Không nên bắt họ phải chờ đợi cũng như không thể bắt Nguyên Hồng phải bốn năm mươi tuổi mới được viết “Bỉ vỏ” khi mà ông viết ra thiên tiểu thuyết kì lạ này lúc mới 17 tuổi.

 

3. Ai đó nói rằng, cá tính sáng tạo bị triệt tiêu thì văn học có chung một gương mặt, đấy là cái mặt nạ của thần chết. Sự tôn trọng cá tính, phong cách, trường phái bao giờ cũng làm cho văn học phong phú và đa phức. Có Thơ đọc để hiểu và có Thơ đọc để cảm. Từ lâu, Cao Bá Quát đã chạm tới cái thăm thẳm của Thơ khi ông cho rằng “Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi” (tức tâm liễu nghĩa chân như si). Hoài Thanh trở thành một nhà phê bình Thơ quán quân của thế kỷ khi ông đọc nó bằng con mắt trực giác, cùng với sự quan tâm đến đời sống riêng biệt của từng thi sĩ. “Một nền phê bình hay, thường ra đời từ sự thân quen (với tác giả) và từ sự tiếp xúc thường xuyên lâu dài với tác phẩm được đánh giá” – Nhận xét này của Octavio Paz có vẻ trái ngược với những “nhà phê bình khách quan”, nhưng thực ra đây là một gợi ý đáng để giới phê bình lưu ý, đặc biệt khi họ phải tiếp cận những giá trị mới có tính khai mở trên hệ thống ngôn ngữ mới phức tạp và đa nghĩa. Khi thơ ca trong tình hình “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” thì sẽ xuất hiện vô số niềm vui tầm tầm, nỗi buồn tầm tầm, yêu ghét tầm tầm, có nghĩa là vô số những tác phẩm tầm tầm, cỏ dại lấn át những mầm cây. Cái tài của nhà phê bình không phải là đốt cỏ (hẳn sẽ làm thui chột các mầm cây) mà phải phát hiện ra các mầm cây để nâng niu chăm sóc nó. Có như thế mới giúp cho người đọc phân biệt được CÂY với cỏ. Đừng sợ cỏ, cỏ mãi mãi vẫn chỉ là cỏ mà thôi. Vấn đề đáng lưu ý đối với phê bình Thơ của ta gần đây là: Khi thì nhầm cỏ là cây, khi lại nhầm cây là cỏ.

 

4. Một nữ tiến sỹ Nhật bản – chị Mori – thạo nhiều ngoại ngữ (khá sành tiếng Việt) và đang tìm hiểu văn học Việt Nam, sau khi nghe nhà thơ Hoàng Cầm và mấy nhà thơ ta đọc Thơ đã không kìm được xúc động, liền nhận xét: “Tôi thấy Thơ Việt Nam hay không kém thơ thế giới mà tôi đã được đọc!” Đấy không phải là một nhận xét “ngoại giao”, mà là một sự khám phá về ngôn ngữ Thơ Việt. Nghệ thuật thơ Việt với những cuộc cách mạng và thành tựu của nó đã tôn vinh tiếng Việt lên tới những đỉnh cao rực rỡ qua nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà hay Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Bích Khê, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Thanh Tâm Tuyền… Thế hệ Thơ xuất hiện trong thời kỳ chiến tranh (chống Mỹ) cũng tạo nên một cuộc đi dài với những đóng góp đáng kể ở giai đoạn “sau chống Mỹ”. Trong những năm gần đây, có người quan niệm rằng Thơ ta cần tước bỏ những rườm rà ngôn ngữ mà chỉ cần hướng tới các ý tưởng hay “thông điệp” để dễ được dịch ra tiếng Anh, (hay các ngoại ngữ khác) mới mong truyền bá ra thế giới; ngược lại có người lại cho rằng cần “phôn-clo hóa cho Thơ” mới dễ dàng phổ cập thơ trong đời sống thị trường đầy xáo trộn ở nước ta. Cả hai quan niệm ấy đều sai lầm khi chối từ chức phận của ngôn ngữ đa nghĩa tạo ra tính hấp dẫn đặc thù của Thơ nói chung và Thơ Việt nói riêng. Chính các nhà thơ phải biết mang tới cho dân tộc mình một ngôn ngữ Thơ sinh động và mới mẻ. Nói như Hêghen: “Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ”. Tôi đọc lại Thơ Việt qua các kiệt tác, các tuyển tập và những tập Thơ đương đại, thiển nghĩ rằng cũng chẳng có gì đáng hổ thẹn trước Thơ của các dân tộc khác. Chúng ta cần khiêm tốn học hỏi, nhưng cũng không nên quá tự ti khi Thơ ta ít được truyền bá trên thế giới. Việc chuyển ngữ từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài là cả một vấn đề lớn, như có lần tôi đã viết trên báo Văn Nghệ và trả lời đài RFI rằng, quá hiếm những nhà thơ nước ngoài thông thạo ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam. Dịch Thơ là tái tạo bài thơ trên một ngôn ngữ khác, không phải ai thạo tiếng nước ngoài là cũng dịch Thơ hay được. Phải có những nhà thơ nước ngoài dịch Thơ Việt như nhiều nhà thơ Việt đã dịch Thơ nước ngoài. Muốn có được điều đó, nhà nước cần phải có một chiến lược đào tạo mới hòng mở mày mở mặt cho Thơ Việt ra cùng thế giới đúng như nó vốn có, chứ không phải là nó mang bộ mặt méo mó dị dạng như hiện tại.  Có thể nói, đây là một “thiệt thòi” lớn cho Thơ Việt cần được khắc phục trong tương lai.

 

5. Thời nào cũng xuất hiện những nhà thơ trẻ. Họ trẻ cả về tuổi đời và trẻ trung trong cảm xúc, tư duy và ngôn từ. Họ tạo ra hình thức như chính họ không an bài trong những “kiểu mốt” thời trang quen thuộc ngoài đời. Sự “đập phá” những khuôn thước cũ để đưa ra những hình mẫu mới là bản chất, hay nói cách khác là tâm lý chung của tuổi trẻ khao khát sáng tạo nhằm khẳng định chính mình. Trong Thơ, sự xuất hiện những gương mặt trẻ có cá tính thường dễ gây “sốc” cho những người vốn đã quen chiêm ngưỡng những giá trị ổn định. Vấn đề “đạp đổ thần tượng” là một vấn đề khó được chấp nhận, vì chưa có thần tượng mới thay thế, vì tâm lý sụp đổ thần tượng hình như chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ. Vậy nên, những cú “sốc” của đối tượng tiếp nhận Thơ “khác chuẩn” là không thể tránh khỏi.

 

Nhưng không chỉ có thế. Vẫn có những người đọc Thơ chán ghét sự nhàm chán, cũ kỹ, sáo mòn đến vô cảm của Thơ, và họ khao khát cái mới, khao khát sự đổi thay, làm phong phú thi đàn, cũng có nghĩa là làm phong phú hơn tâm hồn của con người thời đại. Bởi chính thời đại luôn vận động, và nhiều quan niệm về thẩm mỹ, lối sống, đạo đức, kinh tế, chính trị… cũng dần đổi thay cùng thời đại của nó. Sự xuất hiện những giọng điệu mới lạ, những tên tuổi chưa quen (không chỉ của thế hệ trẻ) như một nhu cầu khẩn thiết đối với họ. Và sự bắt gặp này lại mang tới cho họ niềm vui, nỗi buồn, thất vọng và hy vọng.

 

Gần đây (mươi năm qua), vấn đề tình dục trong văn học ở ta luôn được “soi kính lúp”. Nhiều nhà thơ nhà văn động bút vào tình dục luôn được coi là những đối tượng “cần xem xét”, bởi họ đã động vào hàng rào “cấm kỵ” không văn bản của xã hội cộng đồng. Chính vì thế mà thơ Vi Thuỳ Linh, văn Đỗ Hoàng Diệu (những người thực sự trẻ cả tuổi đời lẫn quan niệm văn chương) được đưa ra mổ xẻ không thương tiếc, và đã trở thành những cuộc tranh luận, bút chiến không phân thắng bại giữa các nhà phê bình không cùng quan niệm, còn các tác giả thì ngậm ngùi đau đớn mang trong mình “nỗi oan Thị Kính” mà không sao giải toả.

 

6. Mười năm qua, có thể nói đấy là mười năm xuất hiện và khẳng định của nhiều nhà thơ trẻ. Tôi muốn nhắc đến những người mà ngay từ khi họ mới xuất hiện đã gây cho tôi sự chú ý và hào hứng viết bài cổ suý, đề cao hoặc lưu ý đến họ. Hiện tượng Văn Cầm Hải ở Huế với tập thơ Người đi chăn sóng biển phải đưa qua 3 nhà xuất bản mới được cho phép in, không phải vì phạm luật cấm mà chỉ vì “thơ lạ quá, đọc không hiểu”. Tám năm sau, tập thơ thứ hai của Hải cũng bị nhận xét đúng như thế, và khác với tập trước là không đâu cấp phép cho in. Nhưng thơ Hải lại được dịch ra tiếng Anh khá nhiều, và xuất hiện trong một số tuyển tập quan trọng trong nước và nước ngoài. Và Hải đã “phải” trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam bằng 2 tập bút ký độc đáo, và “khó đọc” không kém gì thơ Hải. Hiện tượng Vi Thuỳ Linh rầm rộ hơn, bị phê là “mới mười mấy tuổi mà viết về tình dục như người từng trải, cứ là hư trước tuổi”. Hai tập KhátLinh dù sao cũng đã được xuất bản. Đến tập Vili thì chạy vòng quanh qua đủ các cửa ải, và rốt cuộc là xếp xó. Năm năm sau, nghĩa là đến tháng 10.2005 mới được in ra bằng một cái tên khác: Đồng tử, một số bài được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp. Và ông giám đốc Festival Thơ quốc tế tại Pháp đã mời Linh, đại biểu trẻ nhất, tham dự và đọc Thơ trong một Festival như thế tận bên Tây. Phan Huyền Thư cũng là một nhà thơ trẻ sắc sảo, gai góc và sành điệu ngôn từ. Thơ của Thư chẳng “hiền lành” gì, cũng chát chúa thế sự, đanh đá dục tình, nhưng khi tập Nằm nghiêng ra đời thì chỉ nhận được toàn lời tán dương, khâm phục. Chỉ có Nguyễn Hữu Hồng Minh là bị (được) dư luận co bóp liên hồi, khi thì vì thơ tục bẩn, khi thì vì lớn tiếng tuyên ngôn. Nhưng Minh là một người thông minh, “non dạ” nên dần dà cũng được “bỏ qua”. Chỉ có nhóm “Mở miệng” là nổi đình nổi đám trên mạng và sách xuất bản dưới hình thức phô-tô với lối thơ diễu nhại và tuyên ngôn “chúng tôi không làm thơ”, nghe ngồ ngộ thế nào…

 

Vâng, thời gian trôi qua, và những gì đáng còn lại thì cứ còn lại. Thơ trẻ dần dần khẳng định vị trí của họ. Thực tế tâm hồn họ không có chiến tranh đẫm máu như thế hệ cha anh. Họ có thực tế của thời bình mở cửa và hội nhập cũng đầy ba động, thách thức mỗi thân phận con người. Thơ họ đang tiếp cận với xu hướng đó.

 

7. Thơ ta vẫn đang hay, nhưng cái hay có vẻ êm ái, mơn man, rả rích trong mỗi ngõ nhỏ của đời sống tình cảm, mà nó thiếu một “cú hích” mạnh, một tư tưởng lớn tạo ra sự đột biến kinh ngạc trong đời sống văn học. Không ít các nhà thơ thoả hiệp với tiếng vỗ tay trong trò chơi giải trí của đám đông kiểu “vui chơi có thưởng” xuất hiện nhan nhản gần đây. Thơ không phải là khẩu hiệu chữ to để có thể phơi phóng trên các ngã ba ngã tư hay tầm gửi vào các phương tiện quảng cáo tiếp thị dung thô mà không ít người ngộ nhận. Cái mà Thơ ta cần hướng tới là một cuộc cách mạng tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật. Đấy không phải là cuộc cách mạng chối bỏ di sản Thơ, mà tạo ra những “di sản mới” vừa khác biệt lại vừa mang tính kế thừa. Trong sáng tạo, các cá nhân có quyền chối bỏ và phủ nhận kẻ khác để làm nên chính mình, tất nhiên điều đó không đồng nghĩa với sự cắt đứt văn hóa hay văn minh mà các cá nhân cùng tiếp nhận. Nếu một nhà thơ nào đó tuyên bố “tôi không thích Nguyễn Du” thì cũng chẳng can hại gì đến uy tín lớn lao của nhà đại thi hào. Vấn đề là anh có dám từ giã cái cũ để làm nên cái mới hay không mà thôi. Ý tôi muốn nói là Thơ ta không thể an bài với thành tựu đã có, mà cần can đảm, táo bạo hơn để bước qua chính mình. Hoặc nói như Eptusenco – tôi muốn một lần nữa nhắc lại câu nói tâm đắc này: “Hãy đấm vào bức tường, có thể vỡ tay đấy, nhưng cũng có thể làm vỡ bức tường.”

 

 

 


Bài đã đăng của Nguyễn Trọng Tạo

3 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Nguyễn Đức Thiện

Nhân đọc “Thơ và cú đấm…”

Nguyễn Trọng Tạo có lý khi đặt vấn đề “Thơ và cú đấm vào bức tường ngôn ngữ”. Người làm thơ dùng ngôn ngữ để thể hiện mình. Họ thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Mỗi một tác giả có cách thể hiện khác nhau. Và thực sự ngôn ngữ là một thử thách với người làm thơ. Tôi đồng ý với Nguyễn Trọng Tạo: Sự tồn tại của thơ là tất yếu. Thế giới này không có thơ thì còn gì là thế giới. Thơ không của riêng ai, càng đúng. Nó không chỉ đúng với người làm thơ mà đúng với cả người thưởng thơ nữa. Có người từng nói một cách chắc chắn rằng: con người sinh ra vốn đã là một nhà thơ. Kể cũng hơi ngoa, nhưng xét về lý, hình như cũng đúng. Tôi đã từng ngồi một buổi chiều nghe một người đàn bà không hề biết một chữ, đọc thơ ngẫu hứng kiểu xuất khẩu thành thơ. Thôi thì bỏ qua những ngây ngô của người không chữ đi, vẫn tìm thấy trong những câu thơ sáng tác miệng của bà tìnhh yêu chồng, yêu con, yêu cháu nội, cháu ngoại, yêu bờ tre gốc lúa. Ngày ấy tôi chẳng có khai niệm gì về văn chương cả, nếu là bây giờ, tôi sẽ ghi lại: “Biên tập” giúp bà, có khi cũng được một cái gì góp mặt với thơ ca Việt nam, ít nhất cũng ở thể loại diễn ca. Tôi chẳng thấy chính trị, chính em gì trong những câu bà đọc, mà nó ngọt lắm kìa.

Đọc Nguyễn Trọng Tạo, tôi nẩy ra một ý nghĩ: tại sao chúng ta cứ phải áp đặt. Tôi bỏ qua giai đoạn người ta bảo văn học Việt Nam có thời là “hiện thực phê phán”, có thời là “hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Vì bây giờ nhắc lại chuyện đó nó mù mờ khó hiểu lắm. Bây giờ đây, có người vẫn lên giọng bảo người ta phải viết thế này, hay viết thế kia. Có người còn muốn dương cao ngọn cờ vì một cái gì đó để gọi người ta viết theo chủ ý của mình. Không được, thơ vốn tồn tại rất tự nhiên cùng với phát triển của nhân loại, của con người. Người làm thơ cũng tồn tại khách quan trong thế giới thơ vốn có, vậy thì họ yêu, họ ghét, họ buồn họ giận thế nào mà viết thành thơ thì kệ họ. Và đương nhiên khi làm thơ họ phong phú và giàu có vô cùng. Đó là một bức tường thử thách những nhà thơ và thử thách cả những người đọc thơ nữa.

Tôi muốn ông Nguyễn Trọng Tạo nhân nhá thêm chuyện: thơ cũ thơ mới, thơ trẻ và thơ truyền thống, và nếu có thể thì bảo với người đời rằng: thơ nó tự thân vận động, nhưng muốn vận động được thì phải nhờ hai cỗ máy: người làm thơ và người đọc thơ. Người làm thơ thì tùy hứng. Người đọc thơ còn tùy hứng hơn. Hai cỗ máy nghệ sĩ này bao giờ gặp nhau là nhờ một cầu nối: Phê bình. Thế mà phê bình ngày nay giống như kẻ lãng du ấy, chẳng ra khách quan và cũng chẳng ra chủ quan. Ông có kiến thức thì múa bút hù dọa. Ông viết bằng tình cảm thì lại giống… làm thơ trên thơ người khác.

Tôi nghĩ vậy có phải không?

Nguyễn Đức Thiện

Nguyễn Đức Thiện

(Tiếp theo)

Tôi không phải là người làm thơ, nhưng cũng có lúc chỉ có thơ mới thay tôi nói được những điều chất chứa trong lòng với số chữ ít nhất. Càng làm như thế, tôi càng thấy rõ một điều: thơ bản thân nó nằm sẵn trong mỗi con người. Nhưng trời cho ai thiên chức thì người đó làm thơ được. Còn nếu trời không cho thì lâu lâu nói ra, đọc ra và khơi khơi ra.

Hiện nay, thơ Việt Nam đang trong giai đoạn, theo tôi, đang bị rẻ rúng. Người ta in thơ nhiều quá. Tốt thật. Nhưng chính vì in ấn dễ dãi như thế nên bản thân thơ không còn có sức hấp dẫn người đọc nữa. Trong thế giới thơ rậm rạp như hiện nay, tìm cho được một tác giả mới là điều rất khó. Việt Nam phải trải không biết mấy thế kỷ mới có thơ mới giai đoạn trước của thế kỷ XX. Rồi thơ yêu nước. Yêu nước thời chống Pháp, yêu nước thời chống Mỹ. Sau này người ta khoác cho nó cái áo thơ “hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Sáng tác thoát ra ngoài “chủ nghĩa đó” là có vấn đề. Nay đã khác. Thơ hướng đến “người” hơn. Vì thế lúc này mới sinh ra thơ làm theo lối ngày xưa và thơ làm theo lối “hậu hiện đại” như một số người đã đề cập đến trong các bài viết của mình. Cái cũ chưa qua, cái mới tràn đến, giữa cái cũ cái mới, lâu lâu lại đụng nhau. Người thơ kiểu mới thì chỉ trích người làm thơ kiểu cũ là bảo thủ. Người thơ kiểu cũ thì gồng lên trách cứ sự phá cách của thơ kiểu mới. Nhưng theo tôi, hình thức cũ hay mới gì thì cũng là thơ. Mà đã là thơ thì phải tạo được sự đồng cảm giữa người làm thơ với người đọc. Vì thế tôi mới nói người làm thơ và người đọc thơ đều là nghệ sĩ. Nghệ sĩ không có nghĩa là chỉ có ham mê. Nghệ sĩ cả trong việc đọc thơ ai, đọc làm gì, đọc thơ nào, và… không ngó đến thơ cũng là một thứ nghệ sĩ vậy. Cho nên, rất cần có người làm cho những nghệ sĩ đọc biết đọc cái gì, đọc ra sao.

Bây giờ người làm thơ nhiều nên các nhà phê bình không biết chọn ai mà giới thiệu. Có thì cũng đôi ba lần, rồi thôi. Các nhà phê bình, những người có chức năng làm cho người làm thơ và người đọc thơ gần nhau lại, bây giờ hình như chưa làm được chức phận ấy. Thấp thoáng trên những tờ báo có hơi hướng thơ ca, lâu lâu có bài phê bình thơ đấy, nhưng ở hai dạng dễ thấy. Dạng thứ nhất: khoe mình hiểu thơ từ trong nước đến nước ngoài. Dùng bao nhiêu thứ lý thuyết của trời nào đâu áp đặt vào dòng thơ ca Việt. Hoặc viết rất dài, rất dai, nhưng cuối cùng là những lý sự chung chung, rối mù, đến người làm thơ cũng… mù tịt, chứ đừng nói gì đến người đọc thơ. Bây giờ này, rất nhiều người cổ súy cho trào lưu thơ hiện đại: làm cho người đọc biết thơ mới nó là cái gì. Trả lời câu hỏi ấy chỉ là những bài viết chung chung. Nếu có một nhà phê bình nào đó tìm cho ra cái hay của thơ Văn Cầm Hải, Vi Thuy Linh, Phan Huyền Thư rồi viết và bảo với người đọc là: nó hay là nhờ thế, nhờ thế đó, may ra mới lôi kéo được người đọc đến với thơ mới. Còn nếu không, thì cũng chỉ những nhà lý sự tranh cãi nhau, chứ người đọc thông thường… xin phép, không hiểu, đi chỗ khác chơi.

Có một điều tôi dám chắc thế này: bây giờ nếu ai thuộc thơ, thì nhất định thơ từ 1975 trở về trước những năm 30 của thế kỷ 20, sẽ rất nhiều người thuộc. Các nhà phê bình cùng thời nhất định thuộc. Còn bây giờ, tôi không tin các nhà phê bình có thể thuộc nhiều thơ của những người làm thơ mà họ cổ súy.

Lời cuối cùng: Mới đây có cả hội nghị về lý luận phê bình. Có lẽ tại báo chí thông tin không đầy đủ nên tôi thấy có một lỗ hổng quá lớn, đó là: Người làm phê bình cần có trách nhiệm gì với người sáng tác và người đọc. Làm thế nào để qua phê bình, người đọc tìm đến thơ. Nếu không làm được công việc này thì những nhà phê bình chỉ là những người phô kiến thức với một mớ kiến thức suông thôi.

Thôi, không viết nữa. Viết riết rồi mình cũng thành “kiến thức suông” mất.

Nguyễn Đức Thiện

Chào nhà văn Nguyễn Đức Thiện!

Trước hết cám ơn ông đã “đọc và luận” bài viết của tôi, lại còn “nâng cấp” 2 comment trên thành một bài viết gửi qua E-mail cho tôi. Tôi cũng đã đọc kỹ bài viết đó và sẽ cho đăng trên trang Weblog của tôi http://nguyentrongtao.vnweblogs.com để bạn đọc có thể đọc đầy đủ hơn ý kiến của ông.

Nguyễn Đức Thiện là một nhà văn đã từng đoạt Giải nhất truyện ngắn của tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà Văn Việt Nam), nhưng ông lại có những ý nghĩ sâu sắc về thơ, hay đúng hơn là có nhiều day trở về sự tồn tại, phát triển của thơ Việt. Những suy nghĩ của ông cũng là băn khoăn của nhiều người về thơ Việt Nam hôm nay.

Tôi thấy có 2 ý ông nêu ra là rất cần thảo luận, đó là:

1. “Thơ nó tự thân vận động, nhưng muốn vận động được thì phải nhờ hai cỗ máy: người làm thơ và người đọc thơ. Người làm thơ thì tùy hứng. Người đọc thơ còn tùy hứng hơn. Hai cỗ máy nghệ sĩ này bao giờ gặp nhau là nhờ một cầu nối: Phê bình”.

2. “Người làm phê bình cần có trách nhiệm gì với người sáng tác và người đọc. Làm thế nào để qua phê bình, người đọc tìm đến thơ. Nếu không làm được công việc này thì những nhà phê bình chỉ là những người phô kiến thức với một mớ kiến thức suông thôi”.

Vấn đề “Người làm thơ và Người đọc thơ”: theo tôi cả 2 đều phải tiếp cận lẫn nhau. Khi “người làm” sáng tạo ra thơ mới, hệ thống mới thì “người đọc” phải tìm hiểu làm quen và khám phá tiếp. Ngược lại, người đọc cũng làm cho nhà thơ phải lưu tâm về họ.

Vấn đề “Nhà phê bình đối với Người làm và Người đọc thơ” thì dễ hiểu hơn, vì nhà phê bình chính là siêu người đọc. Họ như đi guốc trong bụng các nhà thơ vì tính “chuyên nghiệp thưởng thức” của họ. Tuy nhiên, hiện thực đang cay đắng hơn chúng ta tưởng. Ai dám nói “Chính tôi là con mắt xanh của thơ đây!”?

Hy vọng các bạn sẽ cùng tham gia đàm đạo thêm.

Nguyễn Trọng Tạo