Vĩnh Phúc: Cái chi chi… thơ – Phần 1

Vĩnh Phúc

Cái chi chi… thơ

 

Mệt quá đôi chân này / tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi… Thân mệt, cơm áo mệt, công danh mệt, cuộc đời mệt và thơ… cũng mệt. Thế nhưng người đời vẫn lang thang không nghỉ ngơi, còn người thơ thì vật nài làm phu chữ, trải mình giữa pháp trường trắng; Ai đó lại ngồi tịnh bên thềm hoang chờ nghe tiếng gọi của tâm thức, hay tịch mịch diện bích mong cầu vô thức phát sáng. Ôi Thơcái chi chi mà mê đắm, mà bí ẩn kiếm tìm?! Tôi muốn bắt đầu bài viết của mình bằng ý niệm của Sartre, muốn bắt đầu cuộc nhàn đàm về Thơ không phải từ người sáng tác.

Vĩnh Phúc hiện sống ở chốn quê mùa (Cam Ranh), rất may, không phải là nhà văn nhà thơ, chỉ là một người đọc. Cái chi chi… thơ của Vĩnh Phúc giữa bàn tròn Hội Luận Văn Học Việt Nam hôm nay, do đó, chỉ là một khúc biến tấu nhàn đàm, không hề mang ý nghĩa của một tham luận, tiểu luận.

Knock three times! Tôi tin rằng tuyệt đại đa số chúng ta, trước khi cầm bút, đã gõ, không phải ba mà n lần vào hư vô câu hỏi: Thơ là gì? Câu hỏi không khó chỉ có đến n câu trả lời không giống nhau, thậm chí đối nghịch. Một mình Lawrence Ferlinghetti đã có 52 định nghĩa. Ở đây, xin tạm khoanh vùng một vài định nghĩa làm tiền đề từ đó phóng chiếu cái hay, dở của thơ (theo nội dung yêu cầu của Hội Luận).

  

1.

Ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên của thơ nên Thơ là thế giới của chữ (mot) và nghĩa (sens de mot). Một chữ đơn lẻ không làm thành thơ. Bài thơ ngắn lắm cũng là loại haikâu (kiểu Lê Đạt) hay Haiku của Nhật (17 âm tiết). Đó phải là những con chữ kết tụ thành bầy đànphái sinh ý nghĩa. Theo đó, bài 39 động từ của Đinh Linh không hẳn là một bài thơ đúng nghĩa? Tôi rất đồng cảm với những phân tích của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng trong Đọc một bài thơ như thế nào. Chữ, tự nó là những lóng xương hóa thạch, chỉ đuợc phục sinh khi nhà thơ đặt để chúng trong một mối quan hệ khắng khít đồng chuyển, đồng hiện. Thápcổ nếu chia lìa thì trơ ra, xa lạ nhưng tháp cổ lại đầy mềm mại của một liên tưởng. Theo Tuổi trẻ Online, Nguyễn Danh Lam lang thang tình cờ gặp hai câu đề từ của Đặng Hải Yến treo trên blog đã kêu lên “Thật ấn tượng!”

Khi em cởi áo trước mặt trời rất lạ

Thơ anh ngủ ngực em trên lá hoa

Tôi cũng ấn tượng mặc dù cặp đề từ không có một từ nào mới và lạ, thậm chí quá quen thuộc với áo, mặt trời, ngủ, lá hoa nhưng chính là sự kết hợp hài hòa của những con chữ đã ru ta vào một cõi dịu dàng. Câu thơ nói đến hoạt động cởi áo, ngủ mà không một chút sex. Nếu không khéo tay đan móc, tình huống thơ sẽ xấu đi nhiều lần. Tương tự, câu thơ của Thanh Thảo cũng đã phát sáng trên vùng biển mê hoặc với ngọn sóng thiếu nữ: Biển ơi / Người mê hoặc tôi bằng ngọn sóng thiếu nữ / những đường cong chói sáng / tự xóa bỏ mình. Ẩn dụ đã phát huy tác dụng, khơi gợi một trường liên tưởng lạ lẫm. Trường hợp Đặc sản ruồi của Phan Nhiên Hạo khác hơn một chút:

Chúng ta đang học cách nuôi ruồi

trên bãi rác lịch sử

Định ngữ lịch sử làm bãi rác thành thơ, khái quát đuợc bao nhiêu nghĩ suy của thời đại. Những con chữ thô kệch, đời thường đã bay lên.

Cho nên cộng hợp và phái sinh là hai thuộc tính của từ trên bình diện đa chiều của thơ. Những con chữ lạ hóa, trong một kết hợp độc đáo làm thơ phân biệt với văn xuôi, cho thơ sức mạnh bí ẩn, sự quyến rũ lạ kỳ, là tiếng nói bất thoả hiệp chống lại sự lãng phí của từ ngữ và sự thừa thãi điên rồ của ấn phẩm, là cái gì hiện hữu giữa những hàng chữ (Ferlinghetti). Các biện pháp tu từ là tối quan trọng nhưng nếu người thợ gốm không khéo tay, sản phẩm sẽ không còn hình thù gì để nhận diện. Tôi rất thích Vỉa từ của Nguyễn Hữu Hồng Minh, nhưng Lỗ thủng lịch sử của anh cuối cùng chỉ là những xác chữ trương phình được treo lên dù là rất hậu hiện đại trong thi pháp giễu nhại. Lê Thị Thấm Vân trong Căn phòng 2.2 – âm thanh sóng hình như đang giới thiệu của chứ không khoe chữ-nghĩa của một nhà thơ. Nhóm Ngựa Trời với Dự báo phi thời tiết cũng có một số bài thơ mà ngữ ngôn cứ muốn căng phồng nhảy cẫng lên trong cơn động dục, rất bạo loạn thời a còng nhưng tôi không nghe được bất kỳ vọng âm nào; nên phải chăng là sự thừa thãi điên rồ? Tuy thế, hai bài thơ của Nguyễn Đình Chính với tôi hoàn toàn không hề là hai bãi thơ (chữ của Nhất Vương). Ở đây, có giao hợp, bắn đạn tinh trùng, có cả cục cứt nát, nhưng trong bản hợp âm của những con chữ tưởng chừng bát nháo giễu nhại đó, tiếng nấc lên sùi sụt của nhân văn là âm chủ đạo. Cho nên con âm tự nó là sinh thể sống động nói chuyện với tri âm (nhà thơ và người đọc). Các từ phân, rác, nịt ngực, băng vệ sinh, các bộ phận cơ thể… đặt để ở đây là dung tục, thô thiển, tầm thường, đặt chỗ kia lại phát sáng, tỏa hương.

Vấn đề thứ hai của chữ và nghĩa đang phải lên tiếng báo động trong thơ trẻ đương đại là việc lặp lại nhàm và thừa các con chữ mà người ta đã vắt đến chỉ còn bã (bã mía chữ). "Lỗ rỗng", "Mùa căng", "Nẻ", "Vọng kinh" (Các tựa bài thơ của Phương Lan trong Nhóm Ngựa Trời) phải chăng ở đây là tiếng nói của thời thượng, một thứ ngôn ngữ ước lệ để các tác giả ảo tưởng khoác cho mình cái áo màu ngũ sắc của Hậu hiện đại hay Hậu Nữ quyền luận? Vấn đề liều lượng của các loại ngôn ngữ (bóng bẩy, dung tục), rồi việc dụng công đẽo gọt có lẽ cũng cần phải bàn nhiều. Vì nói như Inrasara, đại ý, nếu chỉ làm mới thơ bằng cách đem vào quẩn quanh các ngôn từ đời thường dung tục thì thơ sẽ nghèo đến kiết xác và kết thúc tắc tị. Ngược lại, trong tâm thức thời đại hôm nay mà chỉ ngủ mơ với các loại từ kiểu phong hoa tuyết nguyệt, mây, mưa, mỹ nhân với thanh sắc thì ôi thôi, các nhà thơ của chúng ta đã kéo lùi lại tuổi thanh xuân của ngôn ngữ, nhốt nó vào vòng lao lý trì trệ. Mùa thu, lá thu xào xạc, ngơ ngác nai… theo tôi, đã đến lúc phải niêm phong để khỏi bất cập.

Thơ, trước hết là vọng âm của những con chữ đuợc lạ hóa, lạ lùng, lạ lẫm trong một kết hợp nhuần nhụy. Không có nghĩa, nghĩa tầm thường/khô cứng/đơn nhất, chữ sẽ chết và tất nhiên, thơ nên quẳng vào vào sọt rác. Với nghĩa tắc tị/đầy ám muội, thơ sẽ dựng lên bức tường chắn lối người đọc. Làm thơ, việc đầu tiên chính là sáng tạo những sinh thể chữ biết kêu vang, có tiếng khóc điệu cười, có đủ thất tình ái ố dục… “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”. Sartre đã tôn vinh nhà thơ – người sánh vai với Thượng đế khi sáng tạo ra ngôn ngữ.

 

2.

Nếu ngôn ngữ tạo được dáng vẻ diện mạo thơ thì nhịp điệu chính là hơi thở của sinh thể thơ. Nhịp điệu bên ngoài bao gồm tiết tấu, bằng trắc, độ dài ngắn của câu… kết hợp với nhịp điệu nội tại (cảm xúc thơ) kích động lên thị giác, thính giác, lên cả nhịp đập của trái tim ta, mở ra những cảm nhận vô bờ cho người đọc.

Nửa vời trăng mộng mông lung

Đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô

(Bùi Giáng)

Cặp thơ lục bát của Bùi Giáng tiên sinh nếu chỉ đọc theo nhịp 2-2-2 và 4/4 truyền thống, có lẽ sẽ hạn chế phần nào các lớp tầng nghĩa. Giả như đọc câu lục theo nhịp 3/3: nửa vầng trăng / mộng mông lung và câu tám theo nhịp 1/5/2: đường / hoa nghi hoặc tháp tùng / ni cô, thì cặp thơ sẽ gây nhiều ấn tượng hơn. Chính nhịp điệu biến thơ thành “cú đập nổi loạn lên cánh cửa của cõi bất đắc nhi tri”  (Ferlinghetti).

Trong thời đại của nhịp sống số, nhịp điệu mang lại cho thơ sức sống mới cũng như tiết tấu của disco, rock, rap với tempo 120-140 phân biệt với Blue, Slow, Boston (60-80). Thơ đương đại gần như đã tách được khỏi bước đi 2/2/3 của Đường luật, và nhịp phách đều đặn (monotone) của thơ Tiền chiến và hiện hữu trong nhịp đập nội tại của thơ. Người đọc có thể thấy trúc trắc, chông chênh, thấy vắt ngang vắt dọc một cách khó hiểu là vì họ chưa tiếp cận và bắt kịp những làn sóng xô nhau, riết róng của thơ. Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là một bài thành công về nhịp điệu với những câu dài ngắn đan xen, những câu chính luận đuợc trải ra trên các dòng kẻ của một nghĩ suy. Tiết tấu trong Nhật ký kim đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều rơi trên những phách gõ mơ hồ, chậm chạp, nhúc nhắc mệt mỏi của một ngày sống:

Bay qua bầu trời, cơn mưa
Mộng mị của ngày mồng 6 tháng Bảy
Một thiếu phụ thường bị ngạt thở
Bên ô cửa xa xôi
In mờ bóng một sư tử 
Và một ngọn núi
Mọc trên cánh đồng của những thì thầm đêm trước
Một văn bản được soạn sẵn
Ông hãy đến với em…”  

(Chúc thư)

Đó cũng là nhịp điệu cơ bản trong thơ Nguyễn Quang Thiều, nhịp điệu của niềm tin vào sự tuyệt vọng và rỗng nên không bao giờ nao nức dù là Ông hãy đến với em. Nếu bạn mà đọc khổ thơ trên với nhịp hối hả, mạnh mẽ, tức là đã phá hỏng nhịp điệu bên trong của Chúc thư (cùng cách với Đàm Vĩnh Hưng đã… rống lên với Diễm Xưa hay Thanh Lam ngậm micro hát Hạ Trắng!) Nhịp điệu, do đó gắn chặt với nội dung và thể loại. Tân hình thức đã đem vào thơ Việt lối vắt dòng tạo nên nhịp hẫng (một hình thức đảo phách của âm nhạc) rất tuyệt vời, nhưng lại bị lạm dụng nên những câu thơ của một số tác giả cứ như ngớ ngẩn lạc điệu.

Vào tiền vệ sáng nay mới

Hay tin ông chết “qua bài

Viết của nguyễn việt chiến phát"

Nhớ liền bài phỏng vấn [dạng

(Một người phu chữ đã chết – Vương Ngọc Minh)

Vắt dòng ở đây hình như chẳng có tác dụng gì, một kiểu mô phỏng, nhạI; trong khi đó với Lê Đạt ngoài câu chữ, tiết tấu trôi đi đầy gợi cảm:

Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ

Trang tầm xuân

                   cau chưa mở nụ ngà

Đàn từ non

              âm hé môi cong mỏ hót

Đọc hai khổ thơ, tôi bỗng chợt buồn và áy náy vì chiền chiện lại hát múa cho họa mi (đã chết)!

Tập Đất vỡ của Vi Lãng – Biên tập viên Damau.org – không có nhiều chất hậu hiện đại nhưng mới, rất mới nhờ nhịp điệu tồn tại gắn với cái biểu đạt.

Em bảo bức tranh này như cơn lũ: đất cuốn, cánh buồm trắng
Ngược gió, con chó tru trơ, sóng ngập trái, và những thứ
Tủn mủn trên bàn. Ngoài khung, chúng không biết gì
Về em và tôi: mình đi qua đó, như bóng trong gương

(Bức Tranh – Đất vỡ) 

Cách dùng các loại dấu kết hợp với thủ pháp vắt dòng có hiệu ứng tạo nên hơi thơ đặc trưng của Vi Lãng, không nhầm lẫn với ai. Cánh buồm, đất cuốn, tiếng chó tru trơ đều ngang bằng nhau trong một cảm nhận tủn mủn.

Tiết tấu nhịp điệu còn là sự lý đến muôn đời của thi ca. Canh tân không phải là đánh liều học đòi người bất chấp trắng đen thị phi. Ôi thôi, họa hổ bất thành! Muốn thành người đẹp đâu phải cứ bắt chước Tây Thi nhăn mặt nhíu mày, nhan sắc kiểu này e là phải đánh dấu than ôi! Xin được dừng lại ở đây nhường đất cho nhà lý luận phê bình…

 

3.

Hình tượng thơ, cấu tứ và nội dung biểu đạt là ba mặt của một vấn đề thơ ca hôm nay. Thơ Việt đang lên hay tụt dốc, đang mở hay đang bế? Rồi thế nào là ngoại vi hay trung tâm, là bảo lưu truyền thống hay cách tân đổi mới? Tất cả những câu hỏi đó treo lên đang chờ các học giả, nhà nghiên cứu trả lời. Vĩnh Phúc thô lậu, không dám lạm bàn. Xin nêu một vài trăn trở, có khi là lạc hậu của mình!

Đề cập đến yếu tính văn chương, Tố Như cảm thán: "Văn chương tàn tích nhược như ti”, và Bùi Giáng đồng tâm sự khi phóng dịch "Văn chương tiếng thở như lời tơ than”. Thi ca, cuối cùng là gì, vô dụng hay đắc dụng, là đóng cửa với chính mình hay mở ngõ mười phương thiên hạ, là kêu rên tình ái tình dục hay vút lên một tiếng kêu thương nhân bản? Tôi thích Allen Ginsberg (1926-1997) với cảm thức phẫn nộ đau buồn đầy chất bi tráng: “Hồ lơ lại bầu trời sông Rhin, tẩy trắng những đám mây cho tuyết lại trắng như tuyết / nạo vét các con sông Hudson, Thames và Nectar, tháo hết cặn bẩn khỏi hồ Erie / Sau đó tôi sẽ ném châu Á to bự vào một thùng chứa để rửa sạch máu cùng chất da cam (Bản dịch của Hoàng Hưng). Không, thơ không làm chính trị, không là công cụ giai cấp nhưng nếu tách thơ khỏi đời sống ngổn ngang máu và nước mắt thì thơ còn lại gì? Là nửa chiếc lá che ngang khuôn mặt xấu xí, là bông hoa tàn rữa của tình em hay là cái cần câu cơm? Đọc Huyền thoại bên máng lợn của Trần Quang Quý, tôi bỗng nghe ngày ì oạp tiếng mưu sinh thắc thỏm mà đêm dậy những giấc mơ bay, giấc mơ không cánh: “Từng nghe tiếng mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ / đèn khuya đỏ mắt đêm /… Tuổi xuân em là nối dài những chiếc máng lợn / chiếc máng hầu bao hy vọng / và một ngày những giấc mơ đến thật lạ /… từ nơi đây có một người từng ôm giấc mơ bay / không bay khỏi lõm mòn máng gỗ”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với Nguyễn Quang Thiều: Thơ là thế giới mà tôi tìm thấy những cơn mơ và sự tự do của mình. Vâng, những giấc mơtự do; nhưng thơ có lẽ không chờ những giấc mơ ám ảnh tình dục, hay nóng bỏng thù hận, cũng không cần dựng lên những gia huấn ca trơ lì đạo đức giả. Thơ, khám phá và sẻ chia với đời, với ngườI chứ không phải thông tin tuyên truyền hay quảng cáo vặt; kiểu như:

Chiều nay em vào shop thời trang
Tìm mua những chiếc xì giấy
Cho chuyến du lịch sớm mai

(Mắt giấy – Nguyệt Phạm)

Ô hay, những chiếc xì giấy một đời tôi lơ ngơ chưa biết?

Giá cả hiện nay đang lạm phát và thơ của chúng ta cũng đang lạm phát trầm trọng xét về mặt xuất bản và đăng báo. Nhiều tác giả in thơ với nhiều mục đích, mục đích có khi ngoài thơ. Theo tôi, có thể xếp thành mấy loại thơ: Thơ mưu sinh đa phần vần vè ca tụng, nhằm đến nhuận bút cơm áo. Thơ hưu trí của các cụ (một cách giải lao), thơ trang điểm của các đại gia để định vị cái nhãn trí thức, thơ tự sự bộc lộ cái tôi trữ tình (Bay lặng yên, hay Gửi VB). Còn lại là thơ thứ… thiệt.

Ba loại đầu không có gì để bàn vì là sản phẩm nhất định phải có của bất kỳ thời đại nào; thơ tự sự trong chừng mực nào đó là sản phẩm nghệ thuật đích thực nhưng mâm cỗ thơ ở đây thực sự là tạp bí lù, đủ món từ tình dục cho không biếu không đến nữ quyền, từ yêu đương đến nhân sinh xã hội, và cũng khoác nhiều màu áo: truyền thống, hậu hiện đại, tân hình thức, thơ dự phóng, thơ cụ thể. Mỗi người một tạng, mỗi người một phong cách viết và lý luận phê bình thì im hơi, không có một cột mốc, tiêu chí nào định vị, thành ra thơ ngổn ngang tranh luận tranh chấp. Mặc, thơ trẻ cứ bung phá, tung hê. Người thích thì viết bài chào hàng tụng ca, kẻ không thích thì dè bỉu, quay lưng. Thơ phân khu vực trung tâm với ngoại vi, hiện đại phóng lên mạng cười vào mũi truyền thống lẩm cẩm; còn truyền thống chễm chệ trên những trang thơ từ trung ương đến địa phương, tự đắc. Thơ đang ồn ào giữa chợ! Con ngựa thơ đang lồng lên. Cần phải có nhiều hơn 100 Hoài Thanh của thời đại mới để kìm cương? Nhiều người đọc ngơ mắt nai, không biết phương hướng, rối tinh rối mù.

Tôi có sưu tập đủ Tạp Chí Thơ (Hội Nhà Văn Việt Nam) để theo dõi. Đọc Thơ ai đọc buổi thu về của Hồ Khải Đại, số 2/2008: “Mỗi tối thu về trong gió hiu / Thơ ai đẹp Đầu súng trăng treo / lòng như sống lại đường ra trận / tiếng hát dài như tiếng suối reo.” Thơ hay chọn vào Tuyển thơ như thế ư? Lạ! Hóa ra tác giả đang dâng tặng bông hoa thơ cho Chính Hữu! Lại đọc chùm thơ của Bùi Ngọc Trình, Tạp Chí Thơ 1/2008, cũng bắt gặp thơ hay/không hay: “Tình bằng là tình bằng không / Người nằm dưới mộ bao đông dãi dầu / Người nay trăng chếch nửa đầu / Nửa đời cuốc xẻng còn đâu nửa đời.” (Lỡ làng cô thanh niên xung phong)

Dù ai có nói ngả nói nghiêng, tôi vẫn đinh ninh rằng đây là thơ hưu trí và tác giả đang hưu trí. Chuyện không nói nữa.

 

(Còn tiếp Phần 2)

 

Cam Ranh, ngày 22/5/2008

Vĩnh Phúc

 


Bài đã đăng của Vĩnh Phúc

15 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Nguyễn Trọng Tạo

Tôi đã đọc “Cái chi chi… thơ” Phần 1 và cả Phần 2 của Vĩnh Phúc từ khi bài vừa gửi tới Ban biên tập.

Giờ đọc lại vẫn thấy bài viết đầy cảm xúc và ngẫm nghĩ sâu sắc, chân thành về Thơ, mà cụ thể là thơ Việt, với nhiều minh chứng thuyết phục.

Vĩnh Phúc chứng tỏ là người khám phá những tác phẩm Thơ tinh tế và nhạy cảm. Điều đó mang lại lợi ích cho người đọc và người sáng tác Thơ.

Bài viết gồm 2 phần này là một Cảm Luận có giá trị đích đáng.

Hy vọng Vĩnh Phúc còn dành cho Hội Luận những bài viết mới.

Nguyễn Trọng Tạo

Tôi cũng mong chờ đọc Phần 2 bài của Vĩnh Phúc.

Trong khi chờ đợi, xin hỏi hai anh, Nguyễn Trọng Tạo và Vĩnh Phúc, một câu nho nhỏ như sau.

Hai anh thấy mấy câu thơ sau có “được” không?
– a.
Ngựa hoang dẫm nát chân đồi
Kiếm hoen thái mớ rối bồi tháng năm

– b.
Hoa khoai lấp ló bờ ao
Bông sen đong nắng đổ vào hồ xanh.

– c.
Rướn lên nào, cầu kỳ vào nào, con lừa già chỉ biết gậm cỏ thực tế, rồi phun ra cũng chỉ những dòng thực tế…

Nhờ các anh thử “ngửi” để xem a, b, c là thuộc loại thơ nào?

Kính,

Quốc

Chào anh Quốc,

Thật là không dám múa bút với gậy nhưng anh đã hỏi thì Vĩnh Phúc xin thưa.

Ba câu thơ anh vừa giới thiệu đều hay cả, vì hình tượng sinh động và chia sẻ với người đọc ít nhiều tâm tình. Câu a và b, tôi không biết tác giả nhưng câu c là hai câu mở đầu bài “Tập làm thơ” của Phan Thị Vàng Anh trong tập “Gửi VB”. Nhịp thơ cũng chính là nhịp chuyển động của lời nói nên hơi thơ lạ. Thơ cũng như nhan sắc. Mỗi người đều có gout thưởng thức riêng anh ạ. Ông bạn tôi chỉ vì thích cái mụn ruồi duyên mà mang vác về một nhan sắc nặng 62 ký và suốt đời cung phụng!?
Hình như anh thích lục bát hơn thơ mới. Xin gửi anh bài thơ nhỏ của tôi viết cho Kiều và Tố Như tiên sinh. Anh cũng “ngửi” xem có được không?

ĐƯỜNG

(Tặng Kiều và Tố Như tiên sinh)

Đường dài bụi
lấm thân em
mấy cơn choáng váng bên rèm
dạ thưa

Đường về kín cổng bão mưa
đường đi phong tỏa trăng xưa
sắc ngời
chập chùng sinh tử phân đôi
hồi chuông điểm mộng còn rơi
giữa mùa

Đường vào cháy những hơn thua
đường ra rộng khắp bán mua
chợ người
bán đen trắng
bán tả tơi
mười lăm năm
xác thân phơi mặt đời
trăng gieo ngấn
gió lả lơi
triền sương sóng sánh gọi mời
điểm trang

Nầy em soi ánh dương quang
từng cơn đại mộng hóa vàng
phiêu du
nầy em tắm gội thiên thu
hư vô gột trắng sương mù phố xa
nầy em nghe giữa la đà
chuông không tịnh giấc sơn ca
giật mình…

(Vĩnh Phúc – 2005)

Chúc anh một ngày vui!

V.P.

Cảm ơn anh Vĩnh Phúc. Xin tâm sự (hay trao đổi) trở lại với anh sau khi có được bình luận của anh Nguyễn Trọng Tạo.

Tôi cũng giống anh Tạo, là quan tâm đến bài viết của anh Vĩnh Phúc, nên muốn được trao đổi qua comment (với anh Vĩnh Phúc và anh Tạo) để hiểu rõ thêm.

Quốc

Hi hi, chào anh Quốc!

Cặp lục bát (a) tôi nghi hai chữ “rối bồi” là “rối bời” thì hay hơn (và đúng hơn).

Ngựa hoang dẫm nát chân đồi
Kiếm hoen thái mớ rối bời tháng năm

Cặp lục bát (b)

Hoa khoai lấp ló bờ ao
Bông sen đong nắng đổ vào hồ xanh

có hình ảnh nên thơ, nhưng làm ta nhớ câu thơ “sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” của Bàng Bá Lân.

Nói chung, cả 2 cặp lục bát ấy đều hay theo kiểu… cũ. Tôi không thích thơ hướng về lối cũ (cũ không phải cổ điển).

Còn câu (c):
Rướn lên nào, cầu kỳ vào nào, con lừa già chỉ biết gậm cỏ thực tế, rồi phun ra cũng chỉ những dòng thực tế…

Nó giống văn xuôi hơn là thơ. Ý này Cao Bá Quát cũng đã nói rất hay: “Đọc sách của người xưa mà không tiêu hóa được”.

Có được câu thơ MỚI mà lại HAY thật khó thay, hình như phải cầu đến ông Trời nữa, anh Quốc nhỉ?

Nguyễn Trọng Tạo

“Rối bời” có thể hay hơn nhưng chưa chắc đúng hơn.“Rối bồi” có nghĩa rối rắm nhiều lên, thêm hơn lên, chồng chất theo năm tháng. Trong trường hợp này sát với vần gieo và theo tôi đã có sự chọn lựa, cân nhắc của tác giả, và vẫn theo ý tôi thì hay hơn “rối bời” của Nguyễn Trọng Tạo.

Lũy Đặng

Xin chân thành cảm ơn bình luận của hai anh, Vĩnh Phúc và Nguyễn Trọng Tạo. Trên tinh thần cùng học hỏi, xin cho phép phúc đáp các anh mấy ý sau.
Vì sợ dài quá khi viết luôn một lần, tôi cũng sẽ chia ý kiên của mình thành 2 phần, hôm nay là phần 1.

1. Ba lời thơ (hay câu thơ/cặp thơ,…) mà tôi ngẫu nhiên đưa ra, rồi đánh số a – b – c, không phải là không có quan hệ với bài viết của anh Vĩnh Phúc và bình luận của anh Tạo. Tôi muốn đưa ra để muốn hiểu rõ thêm các ý trong bài viết và bình luận của hai anh.

2. Như vậy, về đại thể, các anh đều cho rằng, cả a-b-c đều hay cả. Hay như thế nào thì cách cảm nhận của mỗi người đọc một khác.

3. Hôm nay, tạm nói riêng về c trước đã.

Chắc cả hai, đều như anh Vĩnh Phúc đã nói, biết chắc chắn c là thơ của Phan Thị Vàng Anh. Đúng vậy, đó là 2 câu mở đầu của bài số 21 “Tập làm thơ”, trong tập gồm 21 bài với tựa đề “Gửi VB” xuất bản năm 2006 bởi Nxb Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam. Tập thơ này đã được giải thưởng, trên báo giấy và báo mạng đã có nhiều bình luận về nó. Âm hưởng chủ đạo là khen tập ấy, nhưng có một số chê (ví dụ Lê Khả Sỹ, Lê Thiếu Nhơn, Vân Quốc…).
Lời bình của hai anh cho c, theo tôi, cũng là nằm trong âm hưởng khen, tuy sắc thái và ngầm ý có khác nhau:
– anh Vĩnh Phúc bình trực tiếp: “Nhịp thơ cũng chính là nhịp chuyển động của lời nói nên hơi thơ lạ”. Âm hưởng khen ở đây đậm.
– anh Tạo nói xa một chút, có phần bóng gió: “Nó giống văn xuôi hơn là thơ”. Bóng gió là vì anh muốn chỉ đến cái gốc của người viết ra câu thơ đó. Vậy nên, có lẽ vừa khen lại vừa cầm chừng lời khen thì đúng hơn. Phải không anh Tạo?

Mà anh Tạo thì lại càng biết rõ về bài “Tập làm thơ” của Phan Thị Vàng Anh rồi, là vì, bài ấy đã được đăng trên Tạp chí Thơ của anh Tạo ở số 6 năm 2007.

Quốc tôi xin chép lại lời bình của một vị chê c, để mong cung cấp cho hai quí anh về một cái nhìn khác. Đó là lời chê của Lê Khả Sỹ. Anh này, tôi không hề quen biết, nhưng thấy thú vị ở nhiều bài viết nho nhỏ đăng rải trên các báo trong nước. Sau khi bài “Tập làm thơ” đăng trên Tạp chí Thơ của anh Tạo, anh Lê Khả Sỹ chắc đã viết ngay một bài bác tương đối hăng, bài ấy không biết có gửi cho Ban Biên tập của anh Tạo và có được đăng hay không thì tôi không rõ, nhưng hiện tôi được một bạn ở trong nước gửi cho (bản thảo đánh máy gồm 5 trang, hơi mờ). Bài ấy có tựa đề là “Ngẫm mà buồn, nghĩ mà lo”, thấy ghi ngày tháng ở cuối bài là “Hà Nội, 6/12/2007”. Đoạn mở đầu như sau, xin trích (khổ 1 thuộc trang 1 của bản thảo mà tôi đang có):

“Đọc bài “Tập làm thơ” của Phan Thị Vàng Anh đăng trên Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn Việt Nam) số 6 – 2007, mà buồn. Càng nghĩ càng buồn, càng giận một con người cố chắt lọc những ngôn từ chua cay để đánh vào, bôi nhọ bản sắc văn hóa dân tộc, đó là nhà văn Phan Thị Vàng Anh, cả gan xúc phạm đến các thể loại cổ thi – trong đó có lục bát, một thể thơ quen thuộc, gắn bó với thi đàn Việt Nam đã nhiều đời nay, được đông đảo người yêu thơ quí trọng. Lục bát đã thăng hoa từ Truyện Kiều dưới ngòi bút tài tình của đại thi hào Nguyễn Du, nay bị Phan Thị Vàng Anh coi như rơm như rạ. Không riêng thể loại cổ thi, mà nhiều lớp thi nhân trước ta cũng bị coi khinh. Bằng những ngôn ngữ mỉa mai giễu cợt, Phan Thị Vàng Anh viết: “Rướn lên nào…”.

Hôm nay, tôi xin tạm dừng ở đây, và xin lĩnh ý kiến của hai anh. Tôi chỉ đưa ra một cái nhìn khác, để chúng ta cùng suy nghĩ thôi.

Kính hai anh,

Quốc

Chào anh Quốc!

Trong lúc chờ “phần 2” của anh, tôi xin đính chính giùm anh một chút:

– Nguyễn Trọng Tạo từng làm Trưởng ban biên tập báo THƠ (phụ san báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn VN) 2 năm đầu (2003-2004). Sau khi tôi thôi làm ở đấy, báo THƠ tiếp tục ra được mấy số nữa, rồi họ chuyển thành Tạp chí THƠ trực thuộc Hội Nhà Văn VN, tất nhiên là tôi không có làm ở tạp chí này.
– Tôi nghe nói Tạp chí THƠ cũng đã đăng bài của nhà thơ Lê Khả Sỹ mà anh Quốc đã dẫn.
– Đối với các câu thơ a, b, c anh Quốc đưa ra, tôi cho là cũ, nên không thể khen hay.

Nguyễn Trọng Tạo

Chào các bác !

Ngân em lại thích lắm xem comments của các bác. Bác Quốc chắc không cập nhật thông tin rùi, bác lão thi nhân Nguyễn Trọng Tạo không còn phụ trách Tạp chí Thơ nữa rùi. Bác Vĩnh Phúc cho biết: “Tôi có sưu tập đủ Tạp Chí Thơ (Hội Nhà Văn Việt Nam) để theo dõi”. Bác ơi, phiền bác giới thiệu cho mọi người về Tạp chí Thơ đi. Bác có đủ các số thì sẽ tra ngay ra được bài của bác Lê Khả Sỹ.

Thanh Ngân

Đòan Vĩnh Phúc

Chào anh Quốc,

Đọc comment của anh rất vui! VP cũng vui nên góp đôi lời. Xin bắt đầu bằng câu chuyện về một cặp lục bát của một người bạn mà tôi trao đổi sáng nay:

“mở môi ngôn ngữ hồ đồ
vén xiêm em lội dưới hồ nước kia”

và anh bạn đó bình luận: ngôn ngữ hồ đồ là tráo trợn xe thồ ba búa bác học giáo viên học giả đĩ bợm cầu thực tha phương, ăn trên ngồi tróc bóc lột – không lột mà nuốt chửng

Lại tiếp lời bàn: Thơ là hơi thở khi bị táo bón. Phải bốc mùi. Tùy tạng của anh. Anh ăn hoa quả thì sẽ có mùi hoa quả. Như thơ của Hắc Lâm Đầu Đà. Có thể vì ăn thịt chó, nên thơ bốc mùi chó. Và anh lẩm nhẩm gật gù: Nếu ăn gì thì ra mùi đó thế thì… Thế thì anh ăn gì mà thơ bốc ra toàn mùi…cứt? Và bạn tôi kết luận: Đó là một tam đoạn luận của Aristote.

Vĩnh Phúc tôi thì không dám mở môi hồ đồ khi bàn về thơ của người, anh ạ. Nhẹ nhàng thôi! Nhẹ nhàng thôi vì chính Thi sĩ Bùi tiên sinh còn không biết thơ là gì nữa huống hồ chúng ta.

Quay lại với chủ đề bài thơ “Tập làm thơ” và câu thơ “rướn lên nào” của Vàng Anh. Tôi không chủ trương ca tụng “Gửi VB” nhưng mà phê Vàng Anh chắt loc ngôn từ chua cay để giễu cợt tiền bối, chê bai lục bát là rơm rạ thì quá tội cho Vàng Anh.
Theo thiển ý, Vàng Anh làm “Tập làm thơ” là để đối lại với “Tập qua hàng” của bố (Chế Lan Viên). Nguyên văn “Tập qua hàng” như sau:

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
trở về. Nắng sớm cũng mong. Cây
cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay.

Mục đích “Tập qua hàng” hiển lộ ý thức đổi mới bằng việc vận dụng thủ pháp vắt dòng. Nếu chấp nhận tiền đề này thì việc Vàng Anh làm “Tập làm thơ” cũng nhằm phô diễn ý thức canh tân thơ. “Rướn lên nào” với nghĩa “chen chân lên, cố sức đến bở hơi tai” là lời động viên cho mình. Còn “rơm rạ “là biểu tượng của một đất nước nông nghiệp khó nghèo; ở đây không thể quàng cổ Vàng Anh cái tội phỉ báng, từ bỏ ông cha khi cứ nghĩa đen mà hiểu lục bát là rơm rạ = rác rưởi. Thực tế là Vàng Anh đang cố làm mới thơ của mình theo cách cảm và nghĩ của mình, không có ý mạo phạm tiền bối và truyền thống.

Thơ lục bát, theo tôi, thật là tuyệt và cũng hậu hiện đại quá chừng nếu người viết có cảm thức hậu hiện đại. Anh bạn tôi (ở trên) có bật mí với tôi mấy câu lục bát rất HHĐ, gửi anh đọc cho vui nhưng đọc xong cấm cười và… bỏ đi:

Đường qua âm đạo trơn lùi / Đi hoài lại thấy nhiều người… cùng đi
Đi /nhưng bạn đã thấy gì /con đường thơ mộng có khi… lắm thằng (Âm đạo)

Chúc anh cười to lên và ngủ trưa thật ngon!

Đòan Vĩnh Phúc

Cảm ơn các anh Nguyễn Trọng Tạo, Vĩnh Phúc, Lũy Đặng, Thanh Ngân,

Sau khi đọc comments của các anh, tôi xin có mấy lời dãi bày và đính chính những chỗ nhầm lẫn của mình thế này.

1. Về chữ “rồi bời” hay “rối bồi”, như trong ý kiến của anh Tạo và anh Lũy, thú vị hơn tôi nghĩ. Còn thực tế, là chữ nào thì hãy để tôi hỏi lại bên nhà đã, vì cái bản thảo của anh Lê Khả Sỹ (tôi đã thưa ở trên) hiện có trong tủ sách của tôi quá mờ. Phỏng đoán cá nhân của tôi, có lẽ là “rối bời”, như anh Tạo đã chỉ ra. Nếu vậy, đấy là lỗi đánh máy, lỗi ấy thuộc về cá nhân tôi.

2. Về Tạp chí Thơ và sự tham gia của anh Tạo, thì xin đa tạ sự đính chính của anh Tạo. Nếu không được trao đổi với anh thế này, tôi vẫn cứ đinh ninh là anh đang còn phụ trách tạp chí ấy đấy! Thanh Ngân nói đúng, thông tin của tôi thiếu cập nhật.
Tuy nhiên, tôi cũng xin thưa về lí do vì sao mà tôi lại đinh ninh nhầm như vậy. Số là, hiện nay, trong giá sách của tôi có một ít số của Tạp chí Thơ xuất bản ở hài ngoại (do nhóm Đỗ Kh., Nguyễn Thị Ngọc Nhung thực hiện), mà trong số Mùa xuân 2005 (số có bài của các anh Đỗ Quyên, Đinh Linh, Chân Phương…) với “Lời tòa soạn” có một chú thích rằng: “Xin chào bạn chuyên san Thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam do Nguyễn Trọng Tạo phụ trách và đã ra được 18 số” (trang 3 tạp chí đã dẫn). Tôi cứ bị ám ảnh bởi cái chú thích ấy, nên đã nghĩ là anh Tạo vẫn đương chức “lí trưởng “của Tạp chí Thơ (trong nước). Thế mới chết. Hóa ra, anh đã nghỉ chức ấy từ trước khi Lời tòa soạn đã dẫn ở trên ra đời.

3. Tôi đồng ý với Thanh Ngân: nhờ anh Vĩnh Phúc (có đủ số của Tạp chí Thơ của Hội Nhà Văn VN) tra giùm bài của anh Lê Khả Sỹ, cũng như giới thỉệu chung về tạp chí ấy.
Nói thực, trong tay tôi hiện nay không có lấy một số Tạp chí Thơ (của Hội Nhà Văn VN) nào, chỉ thỉnh thoảng liếc qua ở đâu đó khi có dịp.

Quốc

Đòan Vĩnh Phúc

Chào anh Quốc, Thanh Ngân

Thật là tệ quá mà cũng tội quá. Vĩnh Phúc chỉ sưu tập được Tạp chí thơ từ tháng 01/2007 (đăng ký mua thường kỳ) đến nay, nên với đề nghị của quý vị đành là chào thua. Thôi thì cũng đành “đưa nhau ra bến theo cầu nước xuôi”.
VP cáo lỗi cái tội ba hoa vậy!

Chúc quý anh chị moi ngày vui.

Vĩnh Phúc

Trời ạ! Thế hóa ra bác Vĩnh Phúc đã “ba hoa” khi viết “Tôi có sưu tập đủ Tạp Chí Thơ (Hội Nhà Văn Việt Nam) để theo dõi” nhỉ? Nhưng thui, sẽ bỏ quá đi mừ. Bác đã có lời cáo lỗi thì ai dám trách nhiều nữa. Chỉ tội là em sẽ… khó khăn hơn trong việc đọc bình luận văn chương của bác. Nhân tài ngày nay thực sự như lá thu mất rùi! Hu hu…

Thanh Ngân

Chào Thanh Ngân,

Nghe Thanh Ngân phát biểu, VP bỗng ngậm ngùi quá. Nhân tài hôm nay nhiều lắm, không như lá mùa thu đâu. Đừng có bi quan nhé. Vụ Tạp chí thơ – chính thức phát hành là từ 1/2007 (Trước đó là Phụ san Báo Văn Nghệ) nên VP nói, e hèm, cũng không sai mấy đâu ạ.
Chúc TN vui vẻ đọc sách.

Vĩnh Phúc

Chào hai anh Vĩnh Phúc và Thanh Ngân,

Thanh Ngân chớ nên quá bi quan, hãy bình tĩnh nhé. Tôi đang nhờ người gửi cho toàn bộ Tạp chí Thơ bên nhà và những tư liệu liên quan khác, nên một ít thời gian nữa sẽ có được những thông tin mà bạn, cũng như tôi, mong muốn.

Chi tiết liên quan đến “vụ Tạp chí Thơ (trong nước)” trong bài của anh Vĩnh Phúc chỉ là chi tiết nhỏ (anh Vĩnh Phúc có nhận là sai, nhưng chỉ là “không sai mấy” thôi). Theo tôi, có lẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá trị về mặt cảm thụ văn học của bài đó.

Tôi cũng hiểu, có nhiều độc giả khó tính, thấy có một chi tiết không chuẩn xác mà bỏ cả một bài hay một quyển, không đọc nữa (thậm chí còn ném sách vào… tường! (Việc này tôi đã tận mắt chứng kiến). Trong khi, để làm được ra một quyển hay một bài nhỏ, như bài của anh Vĩnh Phúc, người viết cũng phải đổ mồ hôi nhiều lắm đó.

Quốc