Nguyễn Đức Tùng: Đọc một bài thơ như thế nào – Bài 2

Nguyễn Đức Tùng

 
(NHÂN NHỮNG TRANH LUẬN TRÊN TALAWAS SAU NGÀY CHỦ NHẬT 9/3/2008)
 
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn
(Bùi Giáng)
 
 
BÀI HAI
Sự hấp dẫn của chữ
 
1. Ảnh hưởng của phương pháp siêu thực:
Chủ nghĩa siêu thực xuất hiện từ Pháp. Người đầu tiên đặt tên cho nó vào năm 1917 là Guillaume Apollinaire, nhưng người cổ vũ đến cùng là André Breton. Các nhà siêu thực nhấn mạnh đến phương pháp sáng tạo tự động (automatic writing), liên tưởng tự do (free association) và các giấc mơ. Rõ ràng là họ chịu ảnh hưởng của phân tâm học.
Breton kể một giai thoại rằng có một thi sĩ nọ, sống trong một ngôi biệt thự vùng Camaret, mỗi khi đi ngủ, ông lại cho treo trước cửa nhà mình tấm bảng đề “nhà thơ đang làm việc”.
Thật đúng là:
Mía cứ ngọt âm thầm trong bóng tối
(Mai Văn Phấn)
Phương pháp siêu thực cho phép các nhà thơ đi xa trong liên tưởng, tạo ra các hình ảnh không có liên hệ thuần lý (disjunctive images). Các hình ảnh và các ý tưởng trong thơ có mối liên hệ khó giải thích, có thể gọi là vô thức. Cần chú ý rằng mặc dù phong trào siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ đáng kể trong văn chương, những người lập ra hay khai triển nó như Breton, Aragon, có lẽ với một ngoại lệ duy nhất là Octavio Paz - lâu về sau, đều có tính quá khích, phá hủy, thậm chí phá hoại, đồng bóng.
Hầu hết các nhà thơ Việt Nam đều có sử dụng, không nhiều thì ít, hình ảnh siêu thực. Từ Bùi Giáng, Trần Dần, Dương Tường… trước đây, đến Thường Quán, Đỗ Kh., Chu Vương Miện, Nguyễn Quang Thiều, Trần Nghi Hoàng, Bùi Chát, Đỗ Quyên, Lý Đợi, Phan Nhiên Hạo, Đặng Thân, Đỗ Lê Anh Đào, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh hiện nay… chẳng hạn đều có khuynh hướng vô thức. Trong âm nhạc, có một người chịu ảnh hưởng sâu đậm của phương pháp siêu thực khi viết lời, nhưng điều này hình như chưa được ai nói tới, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Nhờ phương pháp siêu thực, cách sử dụng các ẩn dụ trở nên giàu có, gần như phóng túng, bất tận.
Nhưng bao giờ cũng thế, cái dễ là cái bẫy chết người.
Ngày nay, chủ nghĩa siêu thực không còn tồn tại như một phong trào văn học, nhưng vẫn tiếp tục sức mạnh của nó như một phương pháp sáng tác, mà tôi cho rằng sẽ còn lâu dài. Người đại diện xứng đáng đầu tiên của nó ở Việt Nam là Thanh Tâm Tuyền vào những năm 1960 ở miền Nam, mặc dù tôi tin rằng lúc đó ông còn khá xa lạ với phân tâm học. Do áp lực của thời cuộc, chiến tranh trở nên khốc liệt, du kích đánh phá các thành thị, lính Mĩ đổ bộ vào miền Nam, người đọc thơ chưa có thời gian trang bị cho mình kiến thức để sẵn sàng tiếp nhận nó, các nhà phê bình ở miền Nam lúc đó cũng không có đủ sự chuẩn bị về lý luận để đánh giá nó. Các nhà phê bình miền Bắc cùng thời dĩ nhiên là không hay biết hay là không được phép tiếp cận phong trào này. Gần bốn mươi năm sau, chủ nghĩa siêu thực trở lại Việt Nam, lần này đơn giản như một phương pháp. Nó chinh phục một số không ít các nhà thơ trẻ trong nước cũng như hải ngoại, và trong khi hào phóng khơi nguồn ở họ những dòng chảy năng lượng sáng tạo dồi dào, không biết vung phí vào đâu, thì nó lại dẫn họ vào các khu rừng rậm đầy gai của thơ ca, bỏ mặc họ ở đó, không có một viên sỏi nào, và nhiều người mãi mãi không tìm thấy lối ra.
 
2. Ngôn ngữ và vài dòng tự sự về việc chọn chữ:
 
Trên talawas, độc giả Quỳnh Thi hỏi như sau:
 
“Anh lật trái lá sen hồ
Thấy đề mấy chữ
Lên chùa
Vậy là anh lên chùa
Thăm Phật
Theo tôi hiểu, người Phật tử lên chùa là để lễ Phật hay là để cúng Phật. Không ai nói là để thăm Phật.”
Người đọc thơ đọc như Quỳnh Thi là rất kỹ, tinh ý. Đúng là Phật tử lên chùa là để lễ Phật hay là để cúng Phật. Vấn đề là tôi không biết chắc Chế Lan Viên có phải là Phật tử hay không? Nhưng quan tâm của chúng ta không dừng ở đó. Bất cứ nhà thơ nào khi viết cũng dụng công rất kỹ về từ ngữ. Tôi cũng thế. Nhiều người tìm cách định nghĩa thơ, nhưng không ai định nghĩa được trọn vẹn. Dù định nghĩa như thế nào thì có một điều chắc chắn là thơ gồm có… những chữ. (Các loại thơ không có chữ là những ngoại lệ mà chúng ta chưa bàn ở đây.)
Khi viết câu trên tôi đã chọn một số chữ sau đây, các nhà văn còn gọi là “thao tác chữ”: lễ Phật, cúng Phật, lạy Phật, viếng Phật, tìm Phật, hỏi Phật, thỉnh Phật. Thậm chí còn nghĩ đến những chữ rất táo bạo nhưng… không dám viết xuống. Không dám đây là không dám vô lễ với Chế Lan Viên, chứ không phải với Phật (Mô Phật!).
Cuối cùng, tôi đã chọn chữ nào?
Robert Frost, nhà thơ hàng đầu của Mỹ, có một lời khuyên dành cho những người làm thơ và cả những người đọc thơ, đó là đọc to các câu thơ để xem chúng vang lên như thế nào? Tôi cũng tin là tai của chúng ta sẽ bắt được những chữ mà mắt của chúng ta bỏ sót. Đọc như thế vài lần thì tôi chọn chữ thăm.
Đối với nhiều nhà thơ, âm nhạc của bài thơ là quan trọng nhất. Nhưng không phải bao giờ cũng vậy. Một số thể loại thơ không đặt nặng nhạc tính nhiều như một số thể loại khác. Thơ Đường rất mạnh về nhạc tính nhưng thơ Haiku Nhật Bản coi trọng hình ảnh hơn, mặc dù không phải là họ không chú ý vần điệu. Thơ Haiku vốn có vần điệu chặt chẽ. Thơ hiện đại và hậu hiện đại ngày càng xa rời nhạc tính, và đây có lẽ là điều đáng tiếc chăng?
Thật ra, trong bài thơ Chùa, yếu tố quan trọng nhất để người viết quyết định chọn chữ “thăm” không phải là nhạc điệu, mà là ý nghĩa của chữ. Chữ “thăm” dĩ nhiên rất khác với chữ “lễ”, chữ “cúng”. Tôi chọn chữ này để mô tả tính cách của Chế Lan Viên là người mà tôi đề tặng. Đúng ra không phải là tính cách mà là thái độ của ông trước một số vấn đề. Đó là một thái độ, theo tôi, vừa sang cả siêu hình vừa… lưu manh phi trí thức đối với các vấn đề siêu hình và tôn giáo. Cho đến cuối đời Chế Lan Viên vẫn nằng nặc đẩy xa các câu hỏi siêu hình nhưng tôi nghĩ trong các nhà thơ hiện thực Xã hội chủ nghĩa chính thống, chính ông mới là người bị nó ám ảnh nhiều nhất, như trong ví dụ lát nữa đây.
Chúng ta bàn tiếp chuyện chọn chữ. Các nhà thơ ngày càng có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ của đời sống hàng ngày, vì vậy có một hiện tượng hiểu lầm đáng tiếc. Có nhiều thi sĩ ngày nay cho việc chọn chữ khi làm thơ cũng hệt như việc chọn chữ khi viết văn xuôi, “cả hai đều như rứa”. Vì vậy họ làm cho các độc giả yêu thơ rất đáng yêu của chúng ta vô cùng bối rối, nhiều khi như kẻ lạc đường. Không trách họ bỏ các nhà thơ, cầm tập thơ lên rồi bỏ xuống không mua, là phải. Bạn có thể tìm thấy vô số những thí dụ như vậy trên các trang web và báo chí, nên tôi thấy tạm thời không cần phải trích ra.
Nhưng hãy xem ngôn ngữ của một số nhà thơ khác. Từ các bài thơ tôi đang có sẵn trên bàn, lấy tiện tay, nhưng dĩ nhiên không chỉ giới hạn trong số họ.
Có hơi hướm của văn xuôi:
Một ngày loáng thoáng một ngày qua
(Nguyễn Bắc Sơn).
Chạm nhẹ vào văn xuôi:
Đom đóm chữ tụ về
Từ các bãi tha ma văn học
(Đỗ Quyên)
Rõ hơn nữa:
Nghệ thuật cũng vậy thôi. Cao siêu thường bị chối.
(Nguyễn Trọng Tạo)
Giễu nhại và rất thực:
Ở đâu có mùi thối là ở đó có hoa cứt lợn
Bởi vì hoa cứt lợn là một loại hoa rất bẩn
(Lý Đợi)
Nghi thức và rất… sạch:
Em tắm rất kỹ và rửa sạch tay mỗi khi ngồi trước giấy
(Vi Thùy Linh)
Dung dị:
Mẹ tôi chưa từng ăn một cọng bún
Một tô phở một tô bánh canh
Một hột vịt lộn
Một miếng cá chiên
(Du Tử Lê)
Còn Chế Lan Viên thì sao?
Bây giờ mà anh cứ lai nhai lải nhải
Tồn tại hay không tồn tại
Thì ai nghe anh?
Rõ ra là lối nói có chất ngôn ngữ đường phố. Thoải mái, thêm mấy chữ thì, mà… buông thả. Có vẻ như ai cũng viết được.
Không phải thế. Chúng ta cùng đọc lại xem: các chữ đi với nhau rất khéo- bây, lai, nhai, lải, nhải, tại, hay, tại, ai. Đó là các vần trùng điệp liên tiếp mô tả một anh chàng đúng là lai nhai, lải nhải. Tôi chắc chắn rằng ông đã chọn chữ rất kỹ.
Khi phỏng vấn loạt bài Thơ Đến Từ Đâu tôi phải đọc nhiều thơ và trường ca của các nhà thơ đi từ miền Bắc, vốn xa lạ với tôi. Ngoài Bắc gọi đó là các nhà thơ thế hệ “chống Mỹ” (Xin dùng chữ này với nghĩa quy ước, vì ngày nay hầu hết họ đã thôi chống Mỹ, vì thấy chơi với Mỹ, như các nhà thơ miền Nam trước đây, vui hơn). Tôi nhận ra rằng các nhà thơ này (Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha…) có thể so sánh với các nhà thơ miền Nam cùng thời hay trước họ một thế hệ thơ (Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Quách Thoại, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Bắc Sơn, Du Tử Lê, Viên Linh, Nguyễn Tất Nhiên…) nếu xét riêng về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, và chỉ riêng về mặt này mà thôi, trong những thời điểm chiếu sáng nhất của họ, và chỉ trong những thời điểm đó mà thôi, đã đạt đến mức tài hoa điêu luyện, mà các nhà thơ trẻ hiện nay, muốn chạy đuổi theo họ cũng còn… hơi bị lâu!
Thí dụ, Hữu Thỉnh. Nhà thơ này, điều hành Hội Nhà Văn thì dở, bị một số hội viên chê là bảo thủ giáo điều, nhưng làm thơ không tệ chút nào. Trong một trường ca, tôi quên mất tên, mở đầu, Hữu Thỉnh viết:
Đường xuống bến có mười sáu bậc
Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu
Quê tôi bên dòng nước trong xanh (nhưng nhiều cá!), mỗi ngày vào mùa hạ bọn học sinh đều xuống bến sông tắm rửa. Đó là nói trước chiến tranh, trước khi quân đội miền Bắc tiến vào, theo chân… nhà thơ Nguyễn Thụy Kha. Trước chùa sư nữ gần bến đò Thạch Hãn có một tam cấp dẫn xuống nước. Tôi đã từng đếm đúng mười ba bậc. Vì vậy tôi “tự ý” sửa lại như sau:
Đường xuống bến có mười ba bậc
Nhưng đọc lại, tôi thấy nó kỳ kỳ. Tức là không hay. Ba chữ b đi trong một câu là quá nhiều. Tôi thử các phép khác: mười một, mười hai, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bảy, mười tám, mười chín. Đọc đi đọc lại chỉ có mười sáu là hay nhất. Tôi không biết quê ngoài Bắc của nhà thơ Hữu Thỉnh có thật là có bến sông mười sáu bậc hay không? Nếu Hội Luận này… cử người về điều tra thì chúng ta có thể biết được sự thật, nhưng các nhà phê bình không ai dại dột làm điều đó. Tại sao thế?
Vì sự thật văn chương không phải là sự thật thông thường. Nếu là văn chương đích thực, nó phải cao hơn. Và đúng hơn. Kiểu khác. Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.
Tôi xin kể tiếp. Trong các chữ còn lại, tôi thấy chữ mười tám là khá hơn cả:
Đường xuống bến có mười tám bậc
Mười tám là thanh xuân. Mười sáu cũng thanh xuân. Nhưng ngày xưa mười tám thì có… hơi già. Vậy mười sáu đẹp hơn. Về âm, nghe kĩ thấy mười sáu đi với nhiều thứ. Này nhé: chữ sáu bậc phát âm dễ hơn chữ tám bậc hay bốn bậc. Cũng như mười ba, chữ bốn bậc, bảy bậc có quá nhiều vần bờ, trong khi chữ sáu lại vần với âm cuối của câu sau (bạc mái đầu).
Tất nhiên điều này chỉ đúng cho câu thơ nói trên, vì sự lập lại các âm tương tự (repetition) vốn là một thủ pháp quen thuộc của các nhà thơ bậc thầy.
It bleeds the black blood from the blueberries
(Warren)
Tôi có đang vượt qua lãnh vực của ngôn ngữ học không? Nhưng mười sáu thanh xuân mà đi với bạc mái đầu thì đối xứng lắm.
Trăng mười sáu tuổi, em mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa
(Trần Dạ Từ)
Tôi không cần phải bình nữa. Đọc lên thơm cả không gian.
 
 
[Còn tiếp nhiều kỳ] *)
 
Vancouver, 22/4/2008
Nguyễn Đức Tùng
 
*) Kỳ 1 đã đăng trên Hội Luận Văn Học Việt Nam, ngày 25/4/2008
Các sách tham khảo cho bài viết:
 
- Thi Vũ: Bốn mươi năm thơ Việt Nam, NXB Quê Mẹ, 1993
- Hoàng Ngọc Hiến: Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006
- Nguyễn Hưng Quốc: Thơ con cóc và những vấn đề khác, NXB Văn Mới, 2006
- Tuyển Tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, 2007
- Đặng Tiến: Vũ trụ thơ II, Thư Ấn Quán, 2008
- Trần Dần: Thơ, NXB Đà Nẵng, 2008
- Gary Geddes, 20th Century poetry & poetics, Oxford University Press, 1996
- Harold Bloom: Genius, NXB Warner Books, 2002
- Dana Gioia: Twentieth century – American Poetry, McGraw Hill, 2004
- David Lehman: The Oxford Book of Poetry, 2006


Bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

12 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Theo tôi, đầu đề loạt bài này của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng chưa hẳn tương xứng với nội dung. “Đọc một bài thơ như thế nào”, cái đầu đề này làm tôi gợi nhớ đến những cuốn sách và trang viết về thưởng thức văn chương của Nguyễn Hiến Lê, vì đều mong muốn đưa đến cho bạn đọc phổ thông một vài cách đọc tác phẩm văn chương ở bình diện phổ thông và cập nhật nhất. Tuy nhiên, nếu anh Tùng đổi thành một đầu đề, chẳng hạn là “Tôi đã đọc một bài thơ như thế nào”, thì theo tôi sẽ sát thực hơn với kiến thức về thơ và nội dung về thơ mà anh muốn truyền đạt đến bạn đọc.

Không hiểu sao trước đây đọc thơ Nguyễn Đức Tùng tôi cứ liên tưởng đến một phòng khám (phòng mạch), hay một bãi câu cá. Không hiểu sao. Gần đây, được biết anh là một bác sĩ. Tôi đã bật cười, nhưng vẫn chưa làm sao lý giải được sự liên tưởng của chính mình.

Cảm ơn anh Tùng về những bài phỏng vấn công phu và sắc sảo liên quan đến thơ của anh (phần lớn đã đăng trên talawas). Những bài đầu thì còn đôi chỗ thiên về tự quảng cáo (thơ Nguyễn Đức Tùng), nhưng dần dần đã bớt.

Quốc

Đây là bài bình thơ rất tuyệt của Nguyễn Đức Tùng.
Với cá nhân tôi bài “Chùa” là hay nhất, vì nó chứa đựng cả hai yếu tố, nội dung và hình thức. Bài “Nếu” được nhiều người bình và khen, tôi lại chẳng thấy nó hay mấy. Tạng tôi thích thơ nhẹ nhàng mà thâm thúy, có vần điệu càng tốt, còn đọc những “trường phái” mới quá nghe lục cục/lạch cạch nặng đầu lắm!

Đề nghị Anh Tùng phân tích cách đọc những bài thơ gây sốc như bài “Cục Cứt Thơ” của Nguyễn Đình Chính, một số độc giả/tác giả khác đã lên tiếng chê/khen bài thơ này.

Hà Minh

Trần Kim Hoàng

Cảm ơn chú Nguyễn Đức Tùng!

Thú thật đọc bài viết của chú rất hấp dẫn, viết sâu sắc và cũng là một tài liệu cho những sinh viên như chúng cháu học tập.

Ngày trước đang thời học phổ thông (một lớp chuyên văn) nhưng rất nhiều học sinh vẫn không thể nào hiểu thế nào là một bài thơ hay, một câu thơ đẹp. Quả là điều đáng buồn, riêng cá nhân cháu cũng có tập tành làm thơ nên phần nào cháu hiểu được tuy nhiên đến cặn kẽ thì chưa thể nào. Điều đáng buồn nhất là những học sinh hôm nay (mặc dù là các em chuyên Văn), trong số các em cháu từng tiếp xúc thì thấy kiến thức của các em là những mớ văn bản. Các em không hiểu được rằng thơ không phải là sự cảm nhận một văn bản thuần túy và có một điều tai hại hơn các em luôn xem những nhà thơ lớn luôn có những bài hay. Cháu đã nói với các em: “Có những nhà thơ làm thơ suốt một kiếp cũng chỉ để lại trong lòng bạn đọc một vài câu thơ, các em không nên đánh bóng thần tượng, vô tình cổ súy cho nghệ thuật chệch hướng sáng tạo, chuyện thơ là chuyện vô cùng phong phú, đa dạng phải biết đọc và cảm nhận nhiều hướng để có một cái nhìn sâu và rộng về thơ chứ không phải đăm đăm nhìn về một bức tượng mà nghiền ngẫm mãi, giá trị đích thực là sức sáng tạo,sự cống hiến cho nghệ thuật vì nghệ thuật luôn hết mình vì con người và cuộc sống”.

Thưa chú !
Đọc bài viết của chú mà thấy mình còn bé nhỏ quá , tại trường Đại Học Đà Lạt lớp Ngữ Văn K29 khi cháu hỏi nhiều sinh viên về Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Nguyễn Trọng Tạo, Bùi Minh Quốc… là ai – thì đều nhận được hai câu trả lời:
- Ừ có nghe nhưng chưa đọc bài nào.
- Chưa nghe bao giờ nghe.
Không biết các bạn sinh viên kia khi ra trường sẽ dạy học sinh bằng gì và bên phía các bạn chuyên về nghiên cứu, làm báo sẽ lấy kiến thức ở đâu hay là cứ tình trạng “Ôi giời mặc kệ, viết láo cho vui”. Thật nghiêm trọng!

Các bài thơ chú đưa vào bình luận cháu thuộc hết, cháu rất yêu thơ và cháu biết một khi yêu thì mới hiểu được chứ không thể là hai kẻ xa lạ mà hiều được nhau. Cháu có một ý kiến thế này: Các nhà thơ hôm nay hãy tiếp cận với bạn đọc nhiều hơn để họ biết và hiểu nhiều hơn. Nhà thơ cũng có một lỗi - đó là hơi xa với người cảm nhận. Dẫu biết là chuyện làm thơ nhưng cũng nên tiếp xúc gần gũi.

Cái nhìn của cháu có thể phiến diện vì thời gian ít ỏi, mong chú và các nhà thơ, các bạn đọc yêu thơ đóng góp thêm.

Trần Kim Hoàng

Nhân chuyện bạn Trần Kim Hoàng nói về chuyện học văn, dạy văn… Hà Minh xin giới thiệu đường link đến bài viêt của anh Ngô Tự Lập:

“Nguồn gốc văn hóa của đạo văn”
http://www.viet-studies.info/NgoTuLap_NguonVanHoaCuaDaoVan.htm

Trong đó có đoạn: “Dĩ nhiên, đạo văn không chỉ có ở Việt Nam. Sự phổ biến của mạng internet đang khiến cho việc đạo văn trên mạng có xu hướng gia tăng. Mark Edmundson, trong bài viết “How Teachers Can Stop Cheaters” (Thầy giáo làm sao để chống thầy lừa) đăng trên The New York Times, ngày 9 tháng Chín, 2003, cảnh báo tình trạng đạo văn trên mạng của sinh viên các trường đại học Hoa Kỳ.”

Thấy câu chơi chữ của Edmundson quá hay:“How Teachers Can Stop Cheaters” (Thầy giáo làm sao để chống trò lừa). Hà Minh xin dịch: Thầy giáo làm sao chống lũ “tháo giầy” (tháo giầy cho êm mà đi ăn trộm!) Vui tý mà!

Hà Minh

Nguyễn Đức Tùng

Thân gởi Hà Minh, Quốc và Trần Kim Hoàng:

Rất cám ơn quý anh/ chị/ bạn đã đọc và quan tâm đến bài viết của tôi.
Và xin ghi nhận các góp ý.

Thưa anh Hà Minh: Thơ của Nguyễn Đình Chính, nhóm Mở Miệng và nhiều người khác hiện nay gây tranh cãi vì sử dụng các chữ và hình ảnh tục. Tôi chú ý đến trường hợp thơ Nguyễn Đình Chính, và hi vọng sẽ có thời gian viết về thơ anh ấy như anh gợi ý.

Riêng thư của bạn Quốc, xin được trả lời: Loạt bài “Thơ đến từ đâu” trên Talawas là về thơ người khác, không liên quan gì đến thơ Nguyễn Đức Tùng. Tôi không nhớ có nội dung nào liên hệ như thế, mà nếu có, thì nó phải nằm trong một context tự mình giải thích lấy cho người đọc. Chắc anh chưa đọc kỹ. Còn loạt bài hiện nay “Đọc một bài thơ như thế nào” thì như đã nói rõ là viết nhân các tranh luận trên Talawas xung quanh các bài thơ của tôi, nên dĩ nhiên trong vài lần đầu không thể không nhắc đến thơ NĐT. Có điều như bạn có thể nhận ra, đó chỉ là dịp để bàn rộng thêm.

Thư của bạn Trần Kim Hoàng rất khích lệ đối với tôi.

Cuối cùng xin cám ơn tất cả và hẹn sẽ có dịp đọc các nhận xét bổ ích khác của quý bạn.

Nguyễn Đức Tùng

Kính chào anh Nguyễn Đức Tùng,

Cảm ơn thư lại của anh. Cũng một lần nữa, cảm ơn anh vì đã cho chúng tôi đọc loạt bài Thơ từ đâu đến đã đăng bên talawas. Bản thân tôi trước sau vẫn đánh giá cao công sức, tâm huyết và trí tuệ của anh trong loạt bài đó. Nhờ nó mà tôi cũng như nhiều độc giả của talawas như được thở một bầu khí quyển thơ hiện đại như đúng nhịp và mùi - màu - vẻ của nó. Chúng tôi biết: có những bài anh đã mất đến vài ba tháng từ khi bắt đầu khởi thảo đến khi kết thúc.

Bây giờ, xin phép đề cập đến điều anh trả lời trong comment vừa rồi.

Tôi đã viết là, cũng tức là một lời bình: “Cảm ơn anh Tùng về những bài phỏng vấn công phu và sắc sảo liên quan đến thơ của anh (phần lớn đã đăng trên talawas). Những bài đầu thì còn đôi chỗ thiên về tự quảng cáo (thơ Nguyễn Đức Tùng), nhưng dần dần đã bớt”. Anh đã trả lời tôi rằng: “Loạt bài thơ đến từ đâu trên talawas là về thơ người khác, không liên quan gì đến thơ Nguyễn Đức Tùng. Tôi không nhớ có nội dung nào liên hệ như thế, mà nếu có, thì nó phải nằm trong một context tự mình giải thích lấy cho người đọc. Chắc anh chưa đọc kỹ”.
Nay, sau khi có trả lời của anh, tôi xin phép bổ sung lời bình của mình như sau:

1. Loạt bài của anh tương đối dài hơi. Tôi chỉ nhớ đại khái như vậy. Vừa rồi, anh nhắc là “chưa đọc kỹ”, nên tôi vào để kiểm tra lại, thấy cả thảy là 25 bài (có một số bài chạy 2 kì talawas). Tôi đều đã để mắt qua 25 bài của anh, có bài đọc kĩ, bài đọc lướt.

2. Mấy bài mà tôi có ý kiến thì cụ thể như sau: bài số 3 (phỏng vấn Thận Nhiên), bài số 7 (phỏng vấn Nguyễn Thế Hoàng Linh), bài số 9 (phỏng vấn Thanh Thảo), bài số 10 phần 2 (phỏng vấn Lý Đợi). Từ sau bài số 10 thì không còn thấy việc tự quảng cáo nữa.

Tạm thời tôi nêu cụ thể như vậy để trao đổi. Chắc anh hiểu tôi muốn chỉ những chỗ nào trong các bài trên. Cũng rất mong anh bộc bạch về những chỗ ấy, vì có thể tôi hiểu nhầm anh cũng nên.

Kính thư

Quốc

Nguyễn Đức Tùng

Thân gửi anh Quốc,

Tôi vừa xem rất nhanh bốn bài Thơ Đến Từ Đâu trên talawas mà anh nhắc đến trong thư. Tôi xin lỗi không thể đọc kỹ chúng, cũng như đọc hết tất cả các bài khác, vì không có thì giờ. Tôi nhớ nhầm, và anh đã nói đúng! Tuy nhiên, như trong thư trước tôi cũng thưa tiếp rằng nếu có các đoạn nào liên quan đến thơ NĐT thì nó phải nằm trong một bối cảnh hợp lý nào đó. Vì câu chuyện không liên quan trực tiếp đến Hội Luận hiện nay, mà đến một chuyện đã qua, nên tôi chỉ nói ngắn gọn.

1. Trong bốn đoạn anh nhắc, có hai bài tôi trực tiếp trích dẫn thơ của mình là bài Thận Nhiên và Thanh Thảo, còn hai bài do chính các nhà thơ được phỏng vấn tự ý trích dẫn, là bài Lý Đợi và bài Nguyễn Thế Hoàng Linh.

2.Bài Thận Nhiên nếu hôm nay thực hiện, tôi vẫn giữ nguyên sự trích dẫn này, vì cho rằng nó hoàn toàn thích hợp. Bài Thanh Thảo thì có thể lược bớt vài đoạn, vì đọc lại tôi cũng thấy không cần thiết lắm.
3. Tôi xin đính kèm phần Phụ lục, lược bớt cho ngắn, làm tiêu biểu để những người khác có thể theo dõi, e cũng có người không vào được talawas.

Ngoài ra, khi làm loạt phỏng vấn nói trên tôi có những chủ trương riêng của mình. Tạm trình bày:

1.Tôi nghĩ rằng phỏng vấn văn học không phải là phỏng vấn báo chí. Tôi muốn góp phần xây dựng thể loại tương đối mới này. Đây là hình thức trung gian giữa phỏng vấn báo chí, chẳng hạn như giữa một phóng viên và một chính khách, và thể loại phê bình văn học.

2.Người làm phỏng vấn văn học thường là, và nên là, nhà thơ, nhà văn. Các bình luận văn học của họ lồng trong nội dung phỏng vấn có phong cách rất khác với các nhà báo cũng như nhà phê bình chuyên nghiệp. Nhìn từ góc độ người sáng tác, tôi hy vọng rằng các phỏng vấn này giúp soi sáng một số khía cạnh lý thú của sáng tạo văn học, mà có người gọi là chuyện bếp núc văn học.

3. Tuy gọi là phỏng vấn, nhưng thực chất đó là các trao đổi, trò chuyện. Nếu để ý sẽ thấy trong các phỏng vấn khác, người phỏng vấn là người hỏi, và câu hỏi thường ngắn, trong khi người được phỏng vấn là người trả lời và anh ta trả lời… mệt nghỉ. Trong các bài phỏng vấn của tôi, người phỏng vấn không nhất thiết bao giờ cũng hỏi, người được phỏng vấn không phải bao giờ cũng trả lời.

4. Vì lý do vừa nói, và trong bối cảnh thích hợp, việc trích dẫn thơ của người đi phỏng vấn văn học là… chuyện bình thường. Có trường hợp là rất cần thiết. Anh có thể cho đó là sự quảng cáo, đó là quyền của anh, nhưng tôi không cho như vậy. Nếu tôi đọc một bài phỏng vấn của người khác mà người ấy trích dẫn một số thơ của chính họ, tôi vẫn lấy làm thích thú, miễn là thơ ấy tôi đọc thấy thích, và nó được trích dẫn một cách thích hợp.

Tuy vậy, tôi vẫn cám ơn anh đã góp ý và chân thành ghi nhận.

Thân kính,
Nguyễn Đức Tùng

PHỤ LỤC

Sau đây là các đoạn trích, tôi đã lược bớt để dễ theo dõi.

1. Bài Nguyễn Thế Hoàng Linh

Nguyễn Thế Hoàng Linh: Khái niệm “nhất” của một sản phẩm cụ thể (trong phạm vi rộng lớn như một thời đại) hơi xa lạ với tôi. Một số câu thơ tôi thích:

Em chớp mi vào một cánh hoa tàn
Như chạm vào giới hạn

(Vi Thùy Linh)

tôi yêu những người đàn bà đang nà chuột jưới cống

(Bùi Chát)

Mê là mê cái mê của người
Ngộ là mê cái mê của mình

(Nguyễn Bảo Sinh)

Một bài thơ tôi rất thích:

Dưới cánh bướm mùa thu
về đậu vách tường đêm
những cánh rừng yên ngủ

Ở phía sau cánh cửa
ngồi khóc người đàn ông

Phía sau mặt trời hồng
có một vầng trăng khuyết
em từ từ trút hết
ánh sáng vào ngày anh

Phía dưới một bàn chân
có một bàn chân khác
đã giẫm ngày xuân xa

Từ trên vầng mây qua
một người vừa rơi xuống

Ở dưới mỗi gốc cây
xương một con chim nhỏ

Ở phía sau tờ giấy
có những chữ
còn bay.

(“Phía khác” - Nguyễn Đức Tùng)

Tính thơ trong bài này (hình ảnh, nhạc tính, ý tưởng, mạch cảm xúc) là trọn vẹn.

2. Bài Thanh Thảo.

Thanh Thảo: Bài thơ này cũng không mới, vì viết đã ba năm rồi, nhưng có “dính” đến chuyện “câu kéo” nên xin chép anh đọc cho vui:

Không đề

nhấp cầu câu
câu giấc mơ ngày cũ
những giấc mơ
tớp bóng dưới lục bình
xanh buồn bã

Tôi là vậy đó, làm thơ nghĩa là không còn biết giấu mình vào đâu. Mà cũng chẳng giấu để làm gì.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi cũng thích bài thơ này. Bài thơ “câu kéo” của anh làm tôi nhớ đến một bài thơ tôi viết mùa hè năm ngoái khi đi câu với mấy đứa bạn trên bờ biển phía bắc Vancouver. Còn ở dạng bản thảo. Nhân vui chuyện, xin lôi ra chép tặng anh.

Nguồn gốc của các loài

Tôi ném con dao sáng loáng cho thằng bạn
Nó bắt lấy bằng một tay

Thanh Thảo: Một bài thơ hay, tuy có hơi “Mỹ”, nhưng hay. Có thể coi đó là thơ thuộc dòng “Tân hiện thực”. Trong Khối vuông rubich in năm 1985.

3. Bài Thận Nhiên

Thận Nhiên: Ví dụ bài thơ “Danh sách” sau đây. Nó đến từ sự kiện ngư dân Việt Nam bị lính Trung Quốc giết; sự kiện ấy đã gây cho tôi một niềm phẫn nộ trong nhiều ngày. Cho đến một buổi chiều nọ, tôi cầm trên tay tờ báo Thanh Niên có đăng lại tin và danh sách những nạn nhân bị giết. Ngay phút đó, tôi liền thấy mình thành hóa thân từng người trong họ, hình dung ra ngay hoàn cảnh chính mình đang bị giết, và câu đầu tiên bật ra:

Danh sách

Kính thưa những người còn sống
Chúng tôi đã chết!

Tôi tên là Nguyễn Văn Tâm, tôi bị bắn trúng ngực, tôi bị bắn trúng tim

Nguyễn Ðức Tùng: Tôi đồng ý với anh rằng đây là một bài thơ đau xót, đúng hơn, đây là một sự kiện đau xót.

Bài thơ của anh làm tôi nhớ lại vào thời điểm kinh hoàng đó, chúng ta đã phản ứng xúc động và giận dữ ra sao? Cùng lúc với bài thơ của anh đăng trên Tiền Vệ, tôi nhớ mình cũng có một bài thơ khác, ngắn hơn, trên một diễn đàn khác :

Tôi về từ biển khơi
Ði dọc con đường ven sông
Rửa tóc mình bằng máu người đã chết

Sau này, nhớ lại thời điểm đó, như một người làm thơ, tôi vẫn thấy mình cô đơn, với niềm an ủi là có một người bạn duy nhất chia sẻ với mình theo một cách thế đặc biệt. Thưa anh Thận Nhiên, chúng ta có cô đơn…

4. Bài Lý Đợi

Nguyễn Đức Tùng: Để rõ ý hơn và cũng là một ví dụ minh chứng. Anh thử trình bày cách đọc của mình về một bài thơ?

Lý Đợi: Nằm trong mạch suy nghĩ, và cũng đang nằm trong “mối quan hệ” của công việc hỏi và trả lời phỏng vấn, tôi chọn ngay một bài thơ của chính anh [Nguyễn Đức Tùng], vừa in trên Tiền Vệ:

Một con đường ở Phnom Penh

Tháng 9 năm 2006 tôi ra bưu điện nhận một thùng quà lớn
Của người anh bà con thất lạc đã lâu
Từ Phnom Penh
Khi đọc địa chỉ trên gói hàng
4314 Mao Tse Tung Boulevard

Một điều gì đó chạy xuyên qua
Mắt tôi
Trên võng mạc
Nó đảo ngược
Rồi xuyên qua óc tôi

Làm óc tôi vọt ra

Không còn gì phải phàn nàn về thơ quá khó hiểu hay là thơ quá dễ hiểu nữa. Một ý niệm thẳng, căng, mạch lạc, trực tiếp và gây hiệu quả về cảm thụ tức thời. Một bài thơ về sự sụp đổ trong nhận thức, suy tưởng và tư tưởng. Nói như các nhà phê bình Mác-xít, nó rất rõ ràng về quan điểm chính trị.

(Nguồn http://www.talawas.org)

N.Đ.T.

Cảm ơn trả lời của anh Nguyễn Đức Tùng,

Vâng, tôi xem những lời ghi thêm của anh, nhất là đoạn nêu 4 điểm trong chủ trương của anh về cách thức phỏng vấn của loạt bài đã công bố trên talawas. Chúng tôi hiểu được thêm thiện chí và tấm lòng của anh đối với nền văn học nước nhà.

Xin trao đổi lại với anh ở ba điểm sau:

1. Ba điểm đầu trong chủ trương của anh thực ra chỉ là 1. Nội dung viết trong đó nếu được trình bày ở trước loạt bài đã đăng bên talawas thì hay biết bao. Nhưng không sao, nay bổ sung, như anh viết ở đây, vẫn chưa có gì muộn cả.

2. Cá nhân tôi học hỏi được rất nhiều từ loạt bài của anh. Chắc nhiều người khác cũng cảm nhận được như vậy. Điều này tôi đã nói ở các comments trước. Tuy nhiên, để có thể gọi Nguyễn Đức Tùng thực sự là nhà phê bình văn học, hay nhà thơ thực thụ, thì tôi vẫn đang lưỡng lự. Có lẽ anh vẫn đang ở trạng thái trung gian, như anh nói: trung gian giữa báo chí và văn học. Tạm thời, tôi tiếp nhận loạt bài đó, cũng như loạt bài anh đang công bố trên Hội Luận là dạng “tư liệu cho nghiên cứu văn học/tư liệu cho phê bình văn học” (”cho” ở đây là cho ở thời tương lai, có thể là tương lai ấy thuộc về Nguyễn Đức Tùng, hoặc một/nhiều người khác không phải anh). Thế là đã quí lắm rồi. Không có tư liệu, sẽ không làm được gì cả. Chẳng hạn, dù về mặt phê bình và nhận định thì tôi không ưa lắm cô Thụy Khê, nhưng với kho tư liệu cô làm thì tôi bái phục. Mong anh Tùng hãy làm tốt cái kho của mình, trước khi bắt đầu đi vào phê bình văn học thực thụ.

3. Ở điểm thứ 4, anh đã viết: “Anh có thể cho đó là sự quảng cáo, đó là quyền của anh, nhưng tôi không cho như vậy. Nếu tôi đọc một bài phỏng vấn của người khác mà người ấy trích dẫn một số thơ của chính họ, tôi vẫn lấy làm thích thú, miễn là thơ ấy tôi đọc thấy thích, và nó được trích dẫn một cách thích hợp”.
Vâng, cái này thuộc quyền mỗi người. Tùy anh thôi. Còn tôi thì, tôi vẫn giữ quan điểm của mình.

Quốc

Nguyễn Đức Tùng

Rất cám ơn những lời nhận xét có tính khích lệ của anh Quốc. Tôi xin mạn phép tạm chấm dứt ở đây, nhưng vẫn mong sau này có dịp trao đổi trở lại với anh, khi nào anh thực sự hiểu rõ hơn các vấn đề của thơ mà bài viết của tôi đặt ra. Thân mến.

Nguyễn Đức Tùng

Gởi bác Tùng và bác Quốc,

Vậy ra trao đổi của các bác đã đến hồi kết rùi ư? Em cứ mong là phải thêm chút nữa, vì thiên hạ chưa hiểu được rõ ràng các vấn đề bác Quốc nêu mà bác Tùng cần trao đổi lại. Ngân em chưa “thực sự hiểu rõ các vấn đề của thơ” mà bài viết của anh Tùng đặt ra. Mênh mông bát ngát quá, “bạn đọc âm thầm” như em và bác Trần Thị Giàng chưa hiểu được. Hai bác ơi, bác nào cũng được hãy giúp em hiểu mấy nội dung cơ bản về các vấn đề của thơ với.

Thanh Ngân

Kính chào bạn Thanh Ngân và anh Nguyễn Đức Tùng,

Cuộc trao đổi nào, theo tôi, rồi cũng phải kết thúc, vì vậy cuộc trao đổi nhỏ trên Hội Luận này giữa anh Nguyễn Đức Tùng với tôi này cũng sẽ không ngoại lệ.

Kết thúc có thể do lí do này lí do kia, ở đây, tôi nghĩ là nên tạm dừng vì về phía anh Tùng có lẽ không có nhiều thời gian rảnh, chủ đề mà chúng tôi trao đổi lại liên quan nhiều đến loạt bài đăng trên một website khác mà không phải là Hội Luận, bởi vậy tôi thấy việc anh ấy đề nghị tạm dừng là có phần hữu lý.

Hy vọng chúng tôi sẽ trao đổi bổ sung ở những lần khác như anh Tùng đề nghị. Hội Luận mới khởi động, chắc còn nhiều dịp để tìm hiểu về nhau hơn. Bản thân tôi cũng sẽ tìm hiểu thêm để có thể “thực sự hiểu rõ hơn các vấn đề của thơ” mà bài viết của anh Tùng đặt ra (nếu tôi không hiểu được rõ hơn, tôi cũng sẽ báo lại). Còn về phía anh Tùng, nếu có thể, hãy trao đổi một cách giản dị với bạn Thanh Ngân. Hy vọng bạn Thanh Ngân đồng ý với lời đề nghị của tôi.

Quốc

Gởi bác Quốc,

Em thấy lời đề nghị của bác rùi. Đồng ý cả hai tay. Những “théc méc” khác em sẽ hỏi sau vậy.

Thanh Ngân