Huỳnh Lê Nhật Tấn: Trả lời phỏng vấn

Trả lời của Nhà thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn (Việt Nam)

 
 
1. Anh/chị muốn hay không muốn nêu danh tính?
+ Tôi tên Huỳnh Lê Nhật Tấn, hiện sống tại Đà Nẵng.
 
2. Anh/chị tiếp cận ít hay nhiều với văn chương ở hải ngoại (đọc các tạp chí văn học, đọc trên mạng, quen biết giao lưu với những người cầm bút, v.v…)?
+ Đây là vấn đề tôi quan tâm nhất. Tôi nhớ về tủ sách ba tôi còn sót lại vài chục cuốn trước ngày Giải phóng (bị tập trung đốt theo lệnh). Hồi nhỏ tôi chỉ cầm ngắm mà không biết đọc gì. Do thời kỳ bao cấp gọi đó là “văn hóa đồi trụy”, ít ai nói đến tác giả văn chương hải ngoại. Khi theo học khoa Báo chí tại Sài Gòn, trong các tiệm sách cũ, tôi bắt đầu tiếp xúc với các tên tuổi trước 1975 hiện sống tại hải ngoại. Đọc, đọc nhiều lần tôi khó chịu, vì không hình dung hay nhận diện cụ thể các tác giả đó đang ở đâu? Tôi không hề thấy tên tuổi họ trong các bài giảng trên học đường XHCN. Và rồi tôi tò mò hỏi ba tôi – Hoàng Khanh, một trong người sáng lập nhà in-xuất bản Da Vàng tại Đà Nẵng thời điểm năm 1968. Ông kể lại một số hoạt động tự do báo chí xuất bản tại Sài Gòn, Quảng Nam – Đà Nẵng thời vàng son ấy. Trong đó có một số hoạt động của sinh viên trí thức tranh đấu chèn chân nhờ chính sách tự do ngôn luận. Ông nói về các văn sĩ Quảng – Đà thời đó như: Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Phan Xuân Sinh, Hồ Đắc Ngọc, Đuynh Trầm Ca, A Khuê, Đông Trình, Cung Văn, Đoàn Huy Giao, Nguyễn Nho Nhượng, Nguyễn Xuân Phương, Lê Nghiêm Vũ… Tôi mường tượng văn hóa Việt Nam như bị cắt ngang, có ranh giới địa phận, làm khó nhận diện giá trị văn học trong thời cuộc lịch sử này.
Năm 2000 từ khi internet vào Việt Nam, tôi thoáng thấy các tạp chí văn học tại hải ngoại như Tạp Chí thơ, Hợp Lưu. Và tôi bắt đầu gửi bài bằng email (không tốn kém tiền bưu điện) đến các anh Khế Iêm, Phan Xuân Sinh, Đặng Hiền. Khi đó tôi có nhận xét đối nghịch: Bài vở trong nước bị qua sự kiểm tra, duyệt, chỉ đạo bằng hệ thống. Muốn xuất hiện thì thơ luôn phải cắt đi các chữ “suy đồi”. Việc đăng tác phẩm cho những cây bút tự do (không theo hội hè) quá là khó khăn nhiêu khê. Nếu muốn đăng bài thì phải o bế và loại sạch, cạo sạch các nộI dung nhạy cảm về vấn đề chính trị. Thơ tôi gởi cho báo chí trong nước không bao giờ được đăng mà cũng không bao giờ được hồi âm. Các Tạp Chí Thơ, Hợp Lưu tại hải ngoại thì đăng bài của tôi ngay, họ khách quan, chú trọng tìm tác phẩm hay hơn là tư tưởng chính trị.
Gần đây xã hội Việt thay đổi, quan hệ cộng đồng mở, nên tôi rất vui khi một số anh em văn nghệ tại hải ngoại về nước. Chúng tôi thích trao đổi quan điểm về cuộc sống và về việc đối lập hệ tư tưởng đã hệ lụy bao năm nay. Tôi hiểu rằng chúng ta không khác nhau dù ở 2 môi trường chính trị hoàn toàn khác nhau. Tôi cho rằng chúng ta cần đồng cảm nhau, hơn là hận thù vì quá khứ chiến tranh. Thế hệ sau 1975 có biết gì bom đạn đâu!                                          
 
3. Anh/chị có bao nhiêu tác phẩm đóng góp với các tạp chí, báo mạng ở hải ngoại?
 
+ Tác phẩm của tôi đăng ở tạp chí, website tại hải ngoại là Hợp Lưu, Tiền Vệ, Thơ Tân Hình Thức, Da Màu, Gió-O, Giao Điểm, Văn… Tôi nghĩ rằng các ngôi nhà ấy phù hợp tác phẩm của mình vì nó có giá trị đích thực. Nơi đó hội ngộ nguồn tư tưởng mở, không giả dối. Nó có lực hút bản năng truyền đạt đến nhà văn hơn. Một nơi khác như ô cửa mở để tôi thể nghiệm mọi hình thức nghệ thuật bỏ qua lối kiểm duyệt, nói nôm na, là “văn nghệ ngoài luồng” không thuộc tổ chức chính thống nào cả.
 
 
4. Anh/chị có tiếp cận với những tác phẩm của những nhà văn ở hải ngoại in trong nước không? Trong trường hợp có, anh/chị đánh giá những đóng góp đó thế nào?
 
+ Gần đây nhất có Tạp Chí Thơ (Hà Nội) đã đăng các tác giả hải ngoại. Nó là một bước làm cho văn học Việt khách quan hơn. Đã bắt đầu phục hồi sách về văn hóa, nghiên cứu thời trước 1975, trong đó có các nhà nghiên cứu hiện sống tại hải ngoại. Nhà thơ Phan Xuân Sinh trong chuyến về thăm quê hương được xuất bản tập thơ “Khi tình đang ru đời” do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành. Đó là một dấu hiệu văn nghệ trong-ngoài nước đang gần nhau hơn.
 
 
5- Văn chương ở hải ngoại đã đóng góp gì, hoặc có thể đóng góp gì, vào văn hóa Việt Nam nói chung?
 
+ Tôi quan niệm rằng văn chương hải ngoại có đóng góp… 100%! Tại sao không thể xảy ra điều rằng, cái tôi, cái chúng ta đều đi chung con đường chính thống dòng máu Việt, suy nghĩ Việt, viết bằng tiếng Việt với các thế hệ khác nhau? Nếu viết bằng tiếng Anh, Pháp, Đức.. thì máu mủ nhà văn cũng quay về “cội rễ” để nói về “cái gì đó” họ tìm trong tiềm thức bào thai. Đó là cái mà văn chương hải ngoại đóng góp. Tôi nghĩ muốn hải ngoại đóng góp thì cơ chế văn hóa tư tưởng Việt Nam phảI thay đổi, bỏ quan điểm “Thích khen hơn chê”. Tôi nhìn thấy nhà văn, nhà thơ hải ngoại khác với đồng nghiệp trong nước từ trong suy nghĩ. Tôi thích đọc các tác giả trẻ nữ hải ngoại, họ viết thoảI mái bằng bản năng gốc, qua các truyện ngắn, thơ trên internet. Hãy có văn chương hải ngoại, để hiểu hơn về nền văn học di dân của người Việt hải ngoại! Tôi muốn chúng ta nên nuôi ước mơ làm cây cầu nối để trong nước-ngoài nước hội tụ lại. Anh em nào trong nước có điều kiện thì bước xa hơn, ra ngoài, không ngồi một chỗ. Văn sĩ hải ngoại thì trở về quê hương ruột thịt, nghiên cứu cách đóng góp, hỗ trợ văn hóa Việt Nam. Cái chung của chúng ta là tiếng Việt, là văn học Việt, và từ đó để có một nước Việt bằng chí khí ái quốc Việt.
 
 
6- Vì dễ tiếp cận với trào lưu thế giới, những người cầm bút ở hải ngoại có thể đóng góp thế nào (viết, dịch…) về mặt lý thuyết và lý luận văn học với trong nước?
 
+ Ở hải ngoại thì họ có điều kiện du ngoạn hơn, tương tư thoáng hơn và tự do tìm ra các tác phẩm văn hóa phương Tây thích hợp. Và họ lại sống trong không gian cốt yếu của tác phẩm. Một số tác giả Tây phương tôi biết khá rõ nhờ Tạp Chí Thơ, Hợp Lưu.
 

7- Những cơ quan chính thức trong nước như Hội Nhà Văn ở trung ương, các thành phố và địa phương có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy?
 
+ Tôi nghĩ Hội Nhà Văn đã có thay đổi nhiều so với thời kỳ mới mở cửa. Nhưng khi còn người làm quản lý văn hóa hầu như thiếu trình độ thì làm sao nói văn sĩ nghe? Nên tôi hy vọng phải thay đổi tư duy thì văn hóa Việt mới dám nhìn theo văn chương toàn cầu, mới cường dương lên hơn.
 
 
8- Những nhà xuất bản trong nước có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy những việc in ấn, phát hành, v.v…?
 
+ Vai trò nhà xuất bản xem ra cũng giống như “viết lách”, đó là biết cách… lách. Tôi và một số người thuộc nhà văn ngoài luồng không chính thống luôn “ê mệt”. Câu chuyện kiểm duyệt đang còn dài phía trước. Điều đáng quý là tôi cảm thấy trong nước bắt đầu cho ra một số sách dịch từ tiếng Anh thuộc nhiều lĩnh vực kiến thức tri thức thượng tầng, nhiều sách triết học phương Tây… Nhưng tôi vẫn không bao giờ nghĩ gì, quan tâm gì về việc nhà xuất bản cấp giấy phép cho in tác phẩm của tôi.
Còn vấn đề hội nhập văn hóa tại Việt Nam thì tôi cho là “tấm chắn lá chữ” luôn bên cạnh. Họ sợ hãi sợ đụng vào mình, nên đã in các tập thơ không hay; đó là tình trạng có tiền làm thơ háo danh thiên hạ hiện nay. Tại sao nhà xuất bản không đi tìm giá trị đích thực nơi các tác phẩm văn chương để in ấn, phát hành? Không đi tìm thì làm gì có châu báu! Ngoài ra còn phụ thuộc việc nhà xuất bản vẫn còn là cơ quan nhà nước quản lý. Việc tư nhân hoạt động xuất bản văn hóa không bao giờ có, vì người ta sợ dư luận xã hội sẽ tạo thành sự chống phá. Tôi nghĩ khi có tự do ngôn luận thì xã hội mới là một dòng chảy. Nó làm cho mạch máu luôn đổ về não, làm biển và sông liên thông.
 
 
9- Những nhà văn trong nước khuyên gì để những nhà văn ở hải ngoại ứng xử thích hợp với khâu kiểm duyệt và in ấn trong nước?
+Trong nước khuyên gì ư? Chuyện này với tôi e quá khó. Tôi hay nghĩ nên vứt bỏ cục thịt dư chính trị đi! Nhưng tôi vẫn mong là nếu có hội ngộ tư tưởng thì việc in ấn xuất bản trong nước và ngoài nước sẽ song hành, đúng với nền chính trị có tự do báo chí. Ngôn ngữ là việc hàng đầu mang ý nghĩa xây dựng con người, trong đó văn chương là tạo bước ngoặt lớn nhất.
 

10- Anh/chị chắc chắn có những suy tư về vấn đề hội nhập nói trên: xin anh/chị trình bày những suy tư đó, và những biện pháp để trong-ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương ở hải ngoại hay văn chương trong nước.
 
+ Hiện nay, trong xã hội đang có cách nhìn hòa giải. Từ các việc về văn hóa-chính trị như Nhân văn – Giai phẩm, đến chuyện kinh tế như vụ đánh tư sản… Các tờ báo trong nước dần dần đã chuyển tải những thông tư “open” tư tưởng. Khác với thời bắt đầu biến cố lịch sử 1975 – chia rẽ đất nước. Thêm một vấn đề để gầy dựng văn hóa Việt Nam là thúc chuyển, quảng bá văn chương Việt sang các nước khác nhờ cái nền người Việt đã định cư, vì đã có mặt người Việt thì tất nhiên không tốn kém gì. Điều này cũng còn liên quan nhiều về kinh tế, chính trị và quan hệ cộng đồng của người Việt hải ngoại. Hải ngoại nên định tâm để hiểu tâm lý “chiến tranh Nam-Bắc” ở những người Việt trẻ đã không còn bị phân định, qua đôi mắt đối lập, kì thị khác biệt nhau. Còn trong nước phải bày tỏ thái độ đúng đắn, tránh quan liêu, tham nhũng, dốt nát mà lại cầm quyền. Như vậy, mới tạm gọi là hai chữ Hội Nhập cho văn hóa Việt Nam.
 
 
 
Huỳnh Lê Nhật Tấn

 


Bài đã đăng của Huỳnh Lê Nhật Tấn

1 phản hồi/comment

Comments feed for this article

Chào Anh Nhật Tấn, Dũng ở Bình Định đây- Dũng gởi bài thơ đầu tay viết thử, Anh Tấn đọc và góp ý nhé. Chào Anh
Sông Hàn, đêm trở gió !

Sông Hàn*, đêm trở gió

Thương tóc em bời bời

Thương vai còng lưng Mẹ

Nước mắt Cha đầy vơi !

Đây sông Kôn*1, gầm thét

Tiếng vó ngựa oai hùng

Tiếng gươm khua dậy sóng

Nhắc nhở thời lao lung…

Bước chân ai phiêu bạt

Lận đận mãi cuối trời…?

Đêm sông Hàn, trở gió

Sao thấy mình chơi vơi…!

Ai đi xuôi về Nam

Ai ngược lên phương Bắc

Mà hồn không thầm nhắc ?

Thương nhớ sông Hàn ơi !

Sông Hàn, đêm trở gió

Ta nghe tiếng rì rào

Tiếng lòng Sông nức nở

Hay tiếng đời lao xao..?

Xưa theo Cha*2 xuống biển

Xưa theo Mẹ lên rừng

Chiều Mây giăng đỉnh núi

Nước mắt Người rưng rưng… !

Đêm sông Hàn trở gió

Ngoài khơi giặc gầm gừ

Bạch Đằng Giang*3 cuồn cuộn

Chúng đã quên…. rồi ư ..?

Thương sông Hàn trở gió

Chúng con mau tìm về

Ôi ! sông Kôn thổn thức

Nhớ sông Hàn đê mê…..

Hội Vân- Bình Định 11/11/2009

Lê Cát Lâm

(*) sông Hàn là con sông chảy vào trung tâm tp Đà nẵng

(*1) Sông Kôn bắt nguồn từ đông Trường Sơn và tây Trường Sơn thuộc bắc Tây Nguyên chảy về vùng đất Tây sơn, quê hương của Tam Kiệt

(*2) Cha, Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ

(*3) Bạch Đằng Giang, nơi Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đánh tan quân xâm lược