Nguyễn Văn Lục: Chúc thư Văn Học của Nhất Linh

Nguyễn Văn Lục

Chúc thư Văn Học của Nhất Linh: Một cái chết định sẵn
 
 
Lời dẫn của Đỗ Quyên:
Trong trả lời phỏng vấn của Hội Luận[1], để Hội Nhập sao cho Trong-Ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương hải ngoại hay văn chương trong nước, nhà biên khảo Nguyễn Văn Lục nói: “Tôi nhìn thấy nhiệm vụ của mình bây giờ là cày xới lại 20 năm văn học miền Nam để cho mọi người chưa có dịp biết thì biết. Chỉ có trong lãnh vực này, chúng tôi còn chút tin tưởng là hiện nay chính quyền cho in lại các sách vở cũ của miền Nam.”
Hôm nay, độc giả Hội Luận có dịp đến với bài “Chúc thư Văn Học của Nhất Linh: Một cái chết định sẵn” như một tư liệu văn học sử có giá trị và cần thiết, được tác giả gởi kèm trả lời phỏng vấn. Bài này cũng đã đăng trên tạp chí Tân Văn (California) trong tháng qua.
Việc nhìn lại vấn đề Nhất Linh nói chung rất có ý nghĩa với văn học và thời cuộc Việt Nam, mà đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có cơ hội tìm hiểu tương xứng với vị trí của cha đẻ của Tự Lực Văn Đoàn, nhà văn-nhà văn hóa-nhà cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ở đây, tác giả Nguyễn Văn Lục đã đưa ra và lý giải một quan điểm rất khác so với nhiều đánh giá từ trước của văn giới và dư luận xã hội miền Nam về cái chết của Nhất Linh: “Trước hay sau, ông sẽ tìm cái chết như một giải thoát hơn là một thái độ phản kháng.”
 
*
 
Đã hơn nửa thế kỷ kể từ khi Nhất Linh quyết định đưa chúc thư văn học này ra trước công chúng. Qua chúc thư này, có nhiều điều nay cần được nhìn lại và quả thực là không thừa khi tôi làm công việc này. Đồng thời chuẩn bị trong một thời gian không bao xa nữa, Tân Văn sẽ có một số đặc biệt về tờ Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh.
Và sau đây là nội dung bản chúc thư.
“Trong hương trầm của đêm 30 tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, tôi nghĩ tới những nhân tài mới khả dĩ đem lại một nguồn sinh lực rồi rào hơn làm cho Tự Lực thay đổi luôn và mới trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm xúc này và cũng là chúc thư luôn thể, với một bài thơ gởi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của Tự Lực Văn Đoàn. Trong bảy tám nhà văn mới chọn lọc được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn xứng đáng, là nhân viên Tự Lực Văn Đoàn và tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về, cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam. Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm những việc mình đã làm, tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác. Nhưng Tự Lực Văn Đoàn không thể ngưng lại ở số người cũ và đứng yên, người qua, nhưng đoàn phải mới và tiến mãi. Ngoài sự cố gắng của anh em cũ còn lại, tôi mong những nhà văn tương lai, trước và sau khi gia nhập cũng đem hết tâm hồn và khả năng để làm rạng rỡ tên tuổi của đoàn mình, coi mình với đoàn là một, giữ được tinh thần cố hữu trước kia đã sáng tỏ giữa anh em quá cố: giúp đỡ nhau, đùm bọc lấy nhau, cùng nhau sát cánh để phụng sự văn nghiệp và đoàn mình, nghiệp văn dù chung một kiếp người, đoàn văn cùng chung tiếng để mãi tới kiếp sau. Đã bảy năm tôi mới lại có dịp làm thơ và thơ tôi vẫn không hay nhưng lòng và ý thành thực là đủ rồi: 
 
Tự lực, vườn văn mới trỗi lên 
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên 
Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống 
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên 
Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy 
Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm 
Người qua, sách mọt, đời thay đổi 
Tự lực, danh chung, tiếng vẫn truyền 
 
Nhất Linh 
2 giờ sáng mồng một tết, năm Quý Tỵ
14/2/53”
 
Đây là một lá chúc thư, lời lẽ chân tình chan chứa cảm xúc. Ngậm ngùi nhớ tiếc. Người ấy ngồi một mình, nghĩ lại đời mình, bạn bè, kẻ còn người mất, nghĩ tới tương lai Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ), thành quả duy nhất đạt được trong đời một nhà văn sáng chói một thời. Không khí chúc thư cho ta có cảm tưởng như thể của một người sắp ra đi, muốn nhắn nhủ lại. Vì thế mọi chuyện từng chữ, từng câu trong lá chúc thư vỏn vẹn một trang này chứa đựng tâm tư, nỗi lòng thương nhớ bè bạn xa gần cũ cũng như những hoài bão, lòng mong đợi của Nhất Linh. Tôi sẽ hết sức mình viết và nhận định với một sự trung thực tối đa, sự công bình đối với riêng ông Nhất Linh và nhất là đối với văn học.
 
1. Vấn đề ai là nhà văn thuộc nhóm TLVĐ?
 
Đây là thắc mắc của nhiều người đặt ra khi nhìn lại nhóm TLVĐ. Thắc mắc đó là chính đáng và cần tìm lời giải đáp. Theo anh Duy Lam, nhóm TLVĐ mới đầu thật ra chỉ có ba người, ba anh em ruột gồm: Nhất Linh, Thạch Lam và Hoàng Đạo. Họ họp nhau ở Thái Hà. Lúc bấy giờ tiền thân của TLVĐ vẫn còn là tờ Phong Hóa.
 
Người đầu tiên gia nhập nhóm TLVĐ là Khái Hưng, khi ông này viết một bài về Truyện Kiều được Nhất Linh khen ngợi và mời gia nhập nhóm. Trong bấy nhiêu người được mời trong nhóm TLVĐ lúc ban đầu thì đây là một lời mời hợp tác mang nhiều ý nghĩa nhất, đem lại vinh dự nhất cho TLVĐ và cho văn học VN nói chung. Theo tôi, ngoài Thạch Lam, khó có ai trong TLVĐ có thể sánh bì với Khái Hưng. Nói ông là nhà văn hàng đầu, thật không quá đáng. Rất tiếc ông đã bị Việt Minh thảm sát vào năm 1947, tại bến Đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định dịp tết Đinh Hợi. (Tài liệu của chính quyền cộng sản nay cũng xác nhận Khái Hưng chết ở bến Đò Cựa Gà).
Như nhiều trường hợp khác của một số nhà văn, trí thức Việt Nam đã bị sát hại, Việt Minh chịu trách nhiệm cái chết của một nhà văn lớn của VN. Cho đến nay, họ cho in lại sách vở của Khái Hưng trong tuyển tập: Văn xuôi lãng mạn Việt Nam, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội. Nhưng vẫn chưa có một lời xin lỗi. Cùng lắm, trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, năm 1957, Trường Chinh gián tiếp nhìn nhận như sau: ”Việc uốn nắn lại thái độ hẹp hòi máy móc đối với những giá trị văn học cũ, không những có tác dụng sửa chữa những thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời”.
 
Người thứ năm gia nhập TLVĐ vốn là bạn của Nhất Linh, trước cùng làm thư ký với nhau ở sở tài chánh vào năm 1920: Nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trung Hiếu. Ông trở thành nhà thơ trào phúng hàng đầu không những chỉ trong nhóm TLVĐ mà còn trong cả văn chương Việt Nam.
Trong tập thơ Giòng Nước Ngược, Tú Mỡ phụ trách mục Giòng Nước Ngược trong báo Phong Hoá, đã có bốn câu thơ đề tặng Nhất Linh như sau:
“Ít lời lẽ ngang phè
Mấy vần thơ lỗ mỗ
Tặng anh Nguyễn Tường Tam
Đáp tấm ơn tri ngộ.”
Cũng theo Tú Mỡ, có khi số in của tờ Phong Hóa tăng vọt lên đến hàng vạn số, mỗi kỳ. Không biết Tú Mỡ có hăng quá nên vung tay quá trán không? Vì tôi đọc Nhất Linh trong Nói Chuyện Cũ, ông viết như sau: ”Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được đến 2000 số. Chúng tôi lúc đó mong bán được ba nghìn số và đã tự cho là “tham lam” quá.”
Cũng xin ghi lại đây cái không khí anh em, gia đình, tình đồng chí trong việc làm báo mà sau này ít khi có dịp còn tìm thấy cái không khí làm báo như thế nữa. Tú Mỡ ghi lại như sau: ”Trên căn gác ấm cúng nhà số 80 đường Quan Thánh, chúng tôi quây quần, thân mật như hồi ở Ấp Thái Hà.”
 
Người thứ sáu gia nhập TLVĐ là Thế Lữ, người đóng góp thơ mới trong Phong Hóa. Sau này Nhất Linh có mời ông vào nhóm TLVĐ. Người ta thường chỉ nhìn Thế Lữ như một nhà thơ, nhưng thật ra ông viết đủ loại. Truyện tiêu biểu của ông như Thoa, Ông Phán Nghiện, Câu Truyện Trên Tàu Thủy. Chưa kể ông là cây bút viết châm trích khá ác ý những nhà văn nhà thơ không cùng nhóm. Như Lãng Nhân, Nguyễn Trọng Thuật, Lê Văn Trương, Trương Tửu, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai… Chửi nhau, tố cáo ăn cắp, đạo văn cũng dữ dội lắm. Đây là cái dở của TLVĐ? Nhiều khi bất công đối với những nhà văn ngoài nhóm. Có vẻ như đố kỵ. Báo Ngày Nay số 51 đã có bài viết “Chống dâm uế”, công kích thiên phóng sự Lục sì của Vũ Trọng Phụng. Ông Lê Thăng gọi Vũ Trọng Phụng là thằng khốn nạn, là văn sĩ nửa mùa. Dĩ nhiên, Vũ Trọng Phụng đáp lễ công kích Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng của nhóm TLVĐ. Chửi liên tiếp. Chửi tất cả. Kể cũng là lạ ở thời kỳ đó, người ta đã chửi nhau như thế. Một giai thoại được truyền lại trong văn giới: Thế Lữ chế diễu cuốn Làm Đĩ của Vũ Trọng Phụng như sau. Một ông khách vào một tiệm sách hỏi cô bán sách: ”Cô có Làm Đĩ không?” Cô gái đỏ mặt. Không vừa, cô trả lời: “Ở đây không có Làm Đĩ, chỉ có Cái Tát thôi.” Có người lại bảo cô hàng bán sách đáo để đã trả lời rằng, “Dạ không, em không có Làm Đĩ. Chỉ có Những Kẻ Khốn Nạn thôi.” (Les misérables của Victor Hugo).
 
Người thứ bảy gia nhập TLVĐ là nhà thơ Xuân Diệu. Đã có Thế Lữ lại có thêm Xuân Diệu nên sau này Nhất Linh nói đùa rằng ông khỏi cần phải làm thơ, vì trong nhóm đã có hai nhà thơ là Thế Lữ và Xuân Diệu. Theo Thụy Khuê thì Xuân Diệu chỉ được thu nhận sau này khi ông cho xuất bản tập Thơ Thơ, 1938. Tập Thơ Thơ được giải thưởng TLVĐ, sau đó Nhất Linh mới chú ý đến Xuân Diệu và nhận vào nhóm.
Cũng theo Thụy Khuê, người thứ bảy của nhóm phải là Nguyễn Gia Trí, nhưng vì ông là họa sĩ nên đã bị loại ra khỏi nhóm. Cũng trong Di Bút Đời Làm Báo của Nhất Linh, ông chỉ ghi “Nguyễn Gia Trí, họa sĩ” mà thôi.
Tóm lại, nay thì TLVĐ tạm gọi là đã có thất tinh (hay thất hiền?): Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu. Nguyễn Gia Trí không được nhắc tới nữa.
Tuy là có bảy nhân vật chính, nhưng thực ra họ có mặt trong TLVĐ một cách tự nhiên, như anh em, không có nội quy, cũng chẳng có điều lệ gì. Nhưng đối với bên ngoài thì có 7 người là thành viên của TLVĐ.
 
Chữ Tự Lực xuất phát từ ý chí muốn tự lập về tài chánh. Nói đúng ra không muốn lệ thuộc vào bất cứ ai. Vì thế, quyết định rằng, mỗi thành viên phải đóng góp 500 đồng để gây quỹ. Nên nhớ, lương công chức thời đó không quá 20 chục đồng. Vì thế, có cái cảnh Khái Hưng phải vay tiền bà chị để ra làm báo. Cái khổ của Khái Hưng gần một thế kỷ trước đây thì hiện nay hình như cũng không khác bao nhiêu đối với những người làm báo?
Sau này, theo lời đề nghị của Khái Hưng có thêm Trần Tiêu, em của Khái Hưng với các tác phẩm Con Trâu, Năm Hạn, Chồng Con. Cá nhân tôi rất thích cuốn Con Trâu. Khổ sách của cuốn Con Trâu nhỏ đến không thể nhỏ hơn được, chữ nhỏ li ti. Chẳng hiểu tại sao lại được in ấn như thế? TLVĐ đã đứng ra in cuốn truyện đó. Nhưng căn cứ theo “Đời làm báo” của Nhất Linh thì ngay cả cái tên Trần Tiêu cũng không có trong danh sách những tác giả viết cho TLVĐ. Có thể là vì lý do chính trị đã khiến Nhất Linh gạt tên Trần Tiêu ra khỏi TLVĐ? Nhưng phải giải thích làm sao trường hợp ba người ở lại hợp tác với Cộng sản là Thế Lữ, Xuân Diệu và Tú Mỡ?
Sự hợp tác làm văn học với nhau thì có. Nhưng tự nó, TLVĐ đã tan đàn vì những lý do chính trị. Phải chăng cũng là nỗi buồn và tuyệt vọng của Nhất Linh?
Sau này, trong chúc thư Văn học, Nhất Linh có nhắc thêm Đỗ Đức Thu. Điều đó làm nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Nhưng trong bản thảo “Đời làm báo” với nhiều xóa tẩy, ông chỉ ghi là Đỗ Đức Thu (tiểu thuyết). Có nghĩa là ông Thu không thuộc nhóm TLVĐ.
Nhưng sư thực Đỗ Đức Thu là người của TLVĐ. Bởi vì khi viết bản chúc thư thì Nhất Linh đang ở trong Nam mà Đỗ Đức Thu thì còn ở ngoài Bắc. Đó là lý do để Nhất Linh viết rằng sau này Đỗ Đức Thu chắc cũng đồng ý với ông trong việc thu nhận ba nhà văn nữa.
Nếu kể những nhà thơ, nhà văn viết cho nhóm TLVĐ mà không thuộc nhóm TLVĐ thì cũng nhiều, như: Lưu Trọng Lư, Nguyễn Khắc Hiếu, Phạm Thị Cả Mốc, tức Phạm Cao Củng, Huy Cận, Bùi Hiển, Tô Hoài, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Công Hoan, Trọng Lang. Hoạ sĩ như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Trần Vinh Lộc, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Xìn.
Có những nhà thơ như Tản Đà bị nhóm TLVĐ mang ra chế diễu nhiều lần. Như trong bài: “Giời đầy Nguyễn Khắc Hiếu”. Tản Đà không giận chỉ cười. Vì thế, sau này Nhất Linh lại mời Tản Đà hợp tác trong mục làm thơ Đường. Tình bạn văn đã không mất.
Cũng trong chúc thư của ông Nhất Linh có nói đến 7, 8 người thuộc diện ứng cử viên. Vậy họ là những ai? Tôi có hỏi anh Duy Lam, anh cũng không biết chắc là những ai? Và Nhất Linh đã quyết định dừng lại ở ba người như chúng ta đã biết. Theo nhà văn Duy Lam thì ông cũng không thực sự biết được những người được mời là ai; nhưng đáng chú ý nhất là nhà văn Bình Nguyên Lộc. Nhiều người lại cho rằng Nhật Tiến là người của nhóm TLVĐ?
Không phải vậy. Chính thức Bình Nguyên Lộc và Nhật Tiến không có chân trong TLVĐ. Trong tổng số 11 số báo Văn Hóa Ngày Nay đã xuất bản, tôi chỉ thấy có một vài truyện của Nhật Tiến như Đêm Tân Hôn, Đôi Guốc Trắng. Sau này, khi có báo Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh làm chủ nhiệm thì quả thực Nhật Tiến có viết nhiều hơn trước. Vì Nhật Tiến là do Nguyễn Thị Vinh giới thiệu với Văn Hóa Ngày Nay. Trong một chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật của đài Little Sài Gòn sau này, ký giả Đinh Quang Anh Thái hình như có giới thiệu Nhật Tiến là thành viên của nhóm TLVĐ? Không có chuyện đó, nếu không nói là chưa bao giờ có chuyện đó! Thuỵ Khuê cho biết, Nhất Linh không ngỏ lời mời Nhật Tiến vào TLVĐ. Đọc lại danh sách những người biên tập cho Văn Hóa Ngày Nay trong Số 1, tôi thấy có tên các tác giả sau đây: ”Đỗ Đức Thu, Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Tường Hùng, Trương Bảo Sơn.” Riêng Đỗ Đức Thu được giới thiệu là thành viên của TLVĐ.
Sự chọn lựa thành viên của nhóm TLVĐ này qua những tên tuổi trên, chưa vội nói tới giá trị văn chương và tác phẩm, dễ khiến cho người ta liên hệ sự chọn lựa đó là vì con cháu trong nhà. Đó là trường hợp Tường Hùng và Duy Lam. Tôi có đề cập đến sự kiện tế nhị này thì anh Duy Lam cũng cho rằng, tuy điều này có làm cho anh hãnh diện nhưng cũng khiến anh hơi khó chịu đôi chút, vì anh là cháu của Nhất Linh? Riêng trường hợp bà Nguyễn Thị Vinh thì sao? Có nhiều dữ kiện khiến tôi nghĩ rằng nên viết hẳn một chương về trường hợp của bà.
 
2. Cái chết định trước của Nhất Linh
 
Đây là phần quan trọng nhất, mục đích của bài viết này là đi tìm lại ý nghĩa việc Nhất Linh tự tử.
 
Trong bản chúc thư ở trên đã có điềm dự báo về cái chết không tránh khỏi của ông sau này. Những giọt nước mắt trong bản chúc thư này là những giọt nước mắt tiễn đưa của 10 năm sau? Tất cả như một hành trình tâm linh của một người, của một thân phận dẫn dần tới cái chết như mô tả định mệnh đã an bài. Không chết cách này cũng chết cách khác. Và chọn lựa cái chết vào ngày song thất (7 tháng 7) là một chọn lựa chủ ý, như một thứ suicide intentionnelle theo Tây phương hay theo nghĩa Nghiệp, Karma theo Đông phương?
Khi nhắc về cái chết của Nhất Linh để phản đối chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, dư luận thường kết luận một cách rõ ràng, minh bạch: Cái chết đó như một bản án chính tri dành cho chế độ Ngô Đình Diệm. Mọi người, mọi giới đều coi việc Nhất Linh tự tử như một hành vi lý tưởng, dám đem thân mình, sự sống đời mình thách thức cả một chế độ, không chịu khuất phục và không chịu để cho tòa án thời đó xử án ông. Không ai nói khác được, không ai có thể nghi ngờ sự trong sáng, vẹn toàn về cái chết đó. Giấy tờ chúc thư còn để đó. Nó biểu tượng cho một lý tưởng và không khác gì ngọn lửa Thích Quảng Đức trước đó không bao lâu và nó cũng góp phần làm suy sụp nhanh chóng nền Đệ nhất Cộng hòa.
Kể từ ngày 7 tháng 7 năm 1963, ngày mà Nhất Linh tuẫn tiết, đến nay, đã gần nửa thế kỷ trôi qua, xác thân Nhất Linh nay chỉ là nắm tro tàn nguội lạnh, nhưng tôi không muốn tin như thế. Tôi vẫn muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của cái chết ấy.
 
Công việc trước tiên của tôi là gạt ra ngoài những loại văn chương ai điếu. Cái thứ văn chương mà hễ có nhân vật nổi danh nào nằm xuống là phải có sẵn một bài tụng niệm theo kiểu sáo ngữ như: ”Riêng tôi, trên đường đi, tôi cảm nhận hơn một lần, hình như khi đưa tiễn Nhất Linh tôi đang đưa tôi, đang đưa một chặng đường văn học của quãng đời thanh xuân của mình. Chừng đó cũng đủ gợi cho tâm thức một thứ ánh sáng thúc giục lên đường để tự giác ngộ. Tôi đã đưa tiễn Nhất Linh trên đường lên chùa Từ Đàm với một chút lòng sao lạnh, xen lẫn tri ân.” (Trích “Đưa tiễn Nhất Linh”, talawas.org) Đối với tôi thì hiểu Nhất Linh quan trọng gấp bội lần “vinh danh” Nhất Linh như trên.
Nói về cái chết của một người là nói về một bí nhiệm. Phải đâm thủng được bức màn bí nhiệm ấy để hy vọng thấy được những khe hở còn che đậy. Công việc không phải là dễ. Mỗi cái chết tự nó là một thông điệp của người chết gửi người sống, một ý nghĩa.
Ở trong triết học, tự tử mang ý nghĩa từ chối đời sống vì không tìm thấy trong đời sống một ý nghĩa gì khả dĩ để tiếp tục sống nữa. Tự tử như vậy là một chọn lựa tối hậu khi không còn có chọn lựa nào khác.
Nhất Linh đã tự tử. Sự chọn lựa đó phải chăng do những biến cố thời cuộc chính trị của những năm 1963 hay là một chọn lựa tiền định, tiềm ẩn? Thực tế, ông đã để lại một thông điệp 72 chữ mà nhiều người có thể lập lại một cách thuộc lòng như: “Đời tôi để lịch sử xử”. Nhưng lịch sử là ai? Ai xử? Xử như thế nào? Đã xử chưa?
Có thể nào nghĩ rằng khi đọc hết bài này, có thể đổi câu chúc thư trên như sau: “Đời tôi, để tôi tự xử?”
Phải chăng đó chỉ là cách nói của ông? Phải chăng điều căn bản, không chối cãi được ở đây là ông đã tự chọn lựa một cái chết cho mình mà sự việc gì xảy ra trong năm 1963 đã được sắp xếp, tính toán trước như một điều không thể khác?
 
Thật sự, giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Nhất Linh, có một sự đố kỵ về cá tính, về lý tưởng? Trong phạm vi cá nhân với cá nhân, ông Nhất Linh không coi trọng ông Ngô Đình Diệm và nghĩ rằng chỉ có ông Hồ Chí Minh mới là kẻ đối đầu có tầm cỡ, sánh ngang tầm với ông? Hay ông hận vì đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ quên? Việc một hai tờ báo thân chính chế diễu, gọi Nhất Linh là nhà văn viết truyện khiêu dâm? Nhất Linh đã gán cái trách nhiệm chết yểu của tờ Văn Hóa Ngày Nay là do sự ngấm ngầm chống phá của chính quyền Ngô Đình Diệm không cho nhà phát hành Thống Nhất phát hành báo Văn Hóa? Tất cả những vấn đề này, chúng tôi sẽ bàn kỹ trong một số báo đặc biệt về tờ Văn Hoá Ngày Nay. Theo lời bà Nguyễn Thị Vinh viết lại: ”Anh chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ít nhất về quyền tự do ngôn luận bị xâm phạm nặng nề. Tờ Văn hóa Ngày Nay chỉ là giai phẩm, đã không được cấp giấy phép chính thức mà còn bị đóng cửa.”
Thật sự, cho đến bây giờ, tôi chưa hề nghe ai trong giới báo chí nói chính phủ Ngô Đình Diệm đóng cửa tờ Văn Hoá Ngày Nay. Tôi có hỏi thẳng anh Duy Lam về việc này. Anh nói, ông Nhất Linh có tâm sự và cho biết do những khó khăn về tài chánh nên phải đình bản tờ báo. Hy vọng bà Nguyễn Thị Vinh cho một lời giải thích đầy đủ và rõ ràng hơn.
Có thể đổ cho chế độ Ngô Đình Diệm nhúng tay làm việc đó hay không? Và nếu như thế thì cắt nghĩa làm sao sự chết yểu của Hiện Đại, Thế kỷ 20 cũng trong thời kỳ đó? Và dĩ nhiên, mọi người hiểu rằng Hiện Đại, Thế kỷ 20 đóng cửa vì hết tiền tài trợ.
Nhìn lại nhóm những người trí thức đối lập trong nhóm Caravelle thì hơn phân nửa là những người đã từng cộng tác với ông Diệm. Sự chống đối không khỏi có những yếu tố riêng tư trong đó. Nhiều người đã bị bắt, riêng Nhất Linh lại được miễn trừ? Khi hai phi công ném bom dinh Tổng thống Ngô Đình Diệm mà theo nhiều người, đã có tay trong để biết giờ giấc trong dinh. Nhưng đến phút chót, một quả bom của phi công Nguyễn Văn Cử đã không nổ. Vai trò ông Nhất Linh trong vụ ném bom này như thế nào? Chỉ biết khi vụ ném bom xảy ra vào sáng hôm ấy, có sự có mặt hai ông Nguyễn Văn Lực và Nhất Linh đang quan sát diễn tiến nội vu. Làm chính trị đối lập thì khác. Nhưng dính dáng vào một vụ mưu sát thì thực tế chính quyền nào cũng có đủ pháp lý để mang ra xử tội? Lúc đó thì nên để lịch sử xử hay để chính quyền xử? Mật vụ há không biết sao? Họ có làm ngơ không? Chính quyền dù dân chủ cách mấy cũng sẽ không làm ngơ cho chuyện này? Quả bom đã không nổ vì chưa đủ vòng quay đã làm Nhất Linh chán nản tuyệt vọng, tin rằng cái số dòng họ nhà Ngô hãy còn lớn lắm. Thất vọng chồng chất thất vọng mà những người chung quanh Nhất Linh đều nhận thấy.
Có thể nói cuộc đời Nhất Linh lúc đó chồng chất những thất bại. Những giấc mơ không thành. Bằng chứng trong bức hình vẽ chân dung Nhất Linh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ còn dang dở vì sau đó họa sĩ Trí bị đi tù. Khi trở về, ông Nguyễn Gia Trí định vẽ tiếp thì Nhất Linh không cho. Ông đòi để nguyên vì cho rằng, bức họa dang dở giống như cuộc đời của ông. Nó như một tác phẩm chưa hoàn tất. Thất bại của ông thì nhiều, trải dài trong suốt cuộc đời làm chính trị khiến ông bị căn bệnh trầm uất triền miên. Depressive psychosis với ba giai đoạn phát triển tuần tự của bệnh từ suicidal ideation, suicidal planning và cuối cùng sucidal attempt. Từ ý tưởng sang kế hoạch và sau cùng là thi hành.
 
Bệnh tâm thần của Nhất Linh là có thật. Nhưng ít ai trực tiếp nói thẳng ra.
Thứ nhất: Ám ảnh tự tử luôn luôn lẩn quất trong truyện của ông trong hai phần ba cuộc đời. Đó là giai đoạn suicidal ideation. Ngay từ khi còn làm báo Phong Hóa, Tú Mỡ đã ghi nhận như sau: “Tâm thần bị giao động nhiều, gần như bệnh. Cần phải đi dưỡng bệnh.” Đó là những dấu hiệu có tính cách tiên báo trước.
Bệnh càng trở nên trầm trọng theo thời gian vì ông mang quá nhiều gánh nặng trên vai của một kẻ sĩ, của một người trí thức sống trung thực, có lòng với đất nước. Nếu ông không phải một trí thức, không có cái tâm của một kẻ sĩ, tâm trạng của ông có thể ông đã không bi quan như vậy. Chính ông thất vọng về chính ông, vì ông không làm gì được.
Trong những bài viết bàn về cái chết của Nhất Linh, tôi thấy chị Thụy Khê đã ra khỏi những lối suy nghĩ định sẵn và tới gần được Nhất Linh nhất qua những gì ông đã viết. Chị Thụy Khuê đã đào sâu vào những biện luận triết học và suy nghiệm trong tác phẩm văn chương của Nhất Linh tìm ý nghĩa của cái chết ấy.
Phần tôi, tôi đào sâu ý nghĩa việc tự tử này trong sự truy lùng hiện trạng con người, vấn đề tâm thần và lịch sử cuộc đời của Nhất Linh. Xem ra chúng tôi đã đi cùng đường (piste) và do đó tôi tin tưởng vào những điều viết ra ở đây.
Qua từng những chi tiết nhỏ, những nhận xét xem ra rời rạc, nối kết lại với nhau. tôi có cảm giác đã hiểu được phần nào cái chết bi kịch ấy. Càng tìm hiểu, càng tôn trọng con người ấy và những lựa chọn không tránh được của ông. Cái mà ông nói tới như định mệnh con người, định mệnh đời ông, hay như cái Karma của đời ông theo nhà văn Võ Phiến.
Ở trong phạm vi văn chương, thử tìm hiểu xem, ông đã gửi gắm gì trong những truyện của ông. Trong truyện Người Quay Tơ, truyện đầu tay của ông, tôi cảm nghiệm cái cách làm chính trị cách mạng của Nhất Linh rất lãng mạn, rất tự huỷ. Làm chính trị có nghĩa đi đôi với hy sinh đời mình, sẵn sàng chết. Làm cách mạng đồng nghĩa với chết. Thật vậy, trong truyện, Người Quay Tơ, người đọc không biết đích thực ông tú đã làm gì, đã chống đối chính quyền thực dân Pháp ra sao. Chỉ biết ông bị đi tù Côn đảo và đã hy sinh. Cũng vậy, Dũng đã nghĩ về Thái như sau: ”Anh Thái đi như vậy để làm gì? Chẳng qua không biết làm gì nữa thì liều lĩnh”. Thế giới của Dũng là chấp nhận sự bất lực, sự bế tắc và chấp nhận cái chết như một hành vi cao cả và “đáng sống” nhất như một thoát ly: ”Cái chết của Thái đối với Dũng chỉ là một thoát ly, vì thế tôi không sợ chết, vì đất mát lắm.” Ám ảnh về cái chết, về sự tự hủy như một cứu cánh đời sống, ám ảnh ông, bàng bạc trong các tác phẩm của ông, nhất là trong truyện Bướm Trắng?
Có điều gì liên hệ giữa văn chương đến cuộc đời? Những ám ảnh về tự tử trong truyện có thể dẫn đường cho việc giải thích việc tự tử của ông sau này, vào năm 1963 hay không? Chính vì thế, ông đã không muốn cho con cái trong nhà đọc Bướm Trắng khi còn nhỏ? Trong truyện, nhân vật Trương biết mình không còn sống bao lâu nữa đã có những ý nghĩ đen tối là tự tử. Nhân vật Trương nghĩ rằng: “Cách tốt nhất là nhồi một viên đạn nhỏ vào trong sọ. Tạch một cái, thế là hết. Ngọt như mía lùi. Lý luận thêm: “Hèn nhát thì không bao giờ tự tử được, mà có can đảm như trời cũng không thể tự tử được. Tự tử được hay không là ở cảnh chứ không phải ở người”.
 
Nói trắng ra, Nhất Linh nhà văn có phải là một con người bình thường khi quyết định việc tự tử nhằm chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm? Việc tự tử đó có thể coi là một hành vi, hay một quyết định sáng suốt của một người biết mình phải làm gì?
Có thể là sự đau buồn, cô đơn vì cái chết yểu của Thạch Lam, của Khái Hưng. Nhất là cái chết của Hoàng Đạo, một người em, một đồng chí cách mạng. Nguyễn Tường Bách viết lại như sau: ”Song tại đây, một sự mất mát và đau buồn vô tận cho chúng tôi đột ngột tới, đó là cái chết của anh Hoàng Đạo trên một chuyến xe hỏa từ Hồng Kông về tháng 8/1948. Đặc biệt là đối với Nhất Linh, vì hai anh em gần gụi nhất từ nhỏ, và từng sát cánh mật thiết trong sự nghiệp văn hóa, cách mạng.” (“Tưởng nhớ anh Nhất Linh”, Nguyễn Tường Bách, trang 65, sách “Nhất Linh”, nhiều tác giả). Rồi sự thay đổi lập trường chính trị của Nguyễn Tường Bách cũng như sự rạn nứt hệ phái Quốc Dân Đảng với Vũ Hồng Khanh, Tự Lực Văn Đoàn tan đàn nát gánh, thất bại trong việc ký Hiệp ước sơ bộ rồi tản mát chạy sang Tàu. Rồi sự thất vọng khi làm Bộ trưởng ngoại giao dưới chính phủ Hồ Chí Minh và làm nhân vật đối lập dưới thời Ngô Đình Diệm. Bấy nhiêu nỗi thất vọng, chán chường về chính trị có đủ đưa đến quyết định quyên sinh của Nhất Linh sau này hay không?
Bà Nguyễn Thị Vinh đã nhận xét về con người của ông như sau: ”Hằng ngày, tôi ít dám nói chuyện với anh, bởi vì trên gương mặt anh toát ra một vẻ nghiêm khắc, trầm lặng, rất buồn bã. Ánh mắt luôn luôn như nhìn về một cõi xa xăm, mọng lên nỗi chất chứa u sầu. Tới nỗi tôi có cảm tưởng, nếu có một tiếng động dù nhỏ, bất chợt vang lên, cũng đủ làm cho các màng nước trong mắt anh oà vỡ. Cặp môi anh có lúc rung rung như đang nói truyện với ai đó, vô hình, đôi khi lại thoáng nét nhẹ, thật nhẹ, như mỉm cười.” (Trích “Nhất Linh và Xóm Cầu Mới”, Nguyễn Thị Vinh, trong “Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 88).
Đó là thái độ, cung cách của người mắc bệnh tâm thần. Nhất Linh nhất định không thể là một người tâm trí bình thường lúc cuối đời. Ông có vấn đề. Vấn đề của chính ông. Không ai có thể làm gì cho ông được. Ông rơi vào cô đơn và tuyệt vọng. Từng ngày, từng năm tháng sắp tới? Về tâm linh, ông đã chết dần và ông chết từng ngày?
Ông Trương Bảo Sơn, chồng bà Nguyễn Thị Vinh cũng nhận xét như sau: “Phải chăng việc mất hai người em thân yêu như mất hai cánh tay đắc lực, đã làm cho Nhất Linh Nguyễn Tường Tam xót xa đau lòng khiến nhiều đêm ông đã âm thầm khóc một mình và chán nản, ngưng làm chính trị mất ba bốn năm trời, ẩn cư ở núi rừng Đà lạt? (Trích “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh”, trong “Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 73).
Triệu chứng tâm thần đã rõ. Nó dẫn đưa ông đến ý tưởng quyên sinh. Không thiết sống nữa.
Ông Nguyễn Tường Bách là một thầy thuốc đã nhận xét về hiện trạng tinh thần của anh mình như sau: ”Sự tang tóc này khiến cho bệnh suy nhược thần kinh của Nhất Linh càng nặng thêm. Một ngày năm 1950, tôi ra Hồng Kông, chỗ anh ở trên một sườn đồi, bên cạnh một suối trong… Anh cũng đồng ý về nước với quyết tâm sẽ không tham dự hoạt động chính trị nữa, ít ra trong giai đoạn này.” (“Tưởng nhớ anh Nhất Linh”, trích dẫn như trên).
Như vậy việc tự tử của Nhất Linh do tình trạng suy nhược thần kinh đã là nguyên nhân thúc đẩy đến cái chết không tránh được?
Cái chết đã định trước. Đã tính toán. Đã dự liệu. Đã không muốn sống. Ông đã tính toán, đã dự liệu như thế nào?
 
Đó là giai đọan hai, giai đoạn suicidal planning. Như lời của bà Nguyễn Thị Thế: “Có lần tôi hỏi thẳng anh, họ đã tha cho anh không bắt, vậy anh có tự do rồi, anh muốn làm gì thì làm, sao anh còn ngại. Anh trả lời, cô không hiểu tôi, tôi chỉ ngồi đây đợi hai năm nữa thôi. Anh nói đến đây thì chị Tam ở dưới nhà lên nên anh lại không nói gì nữa. Riêng tôi về sau cứ mãi băn khoăn về câu anh nói chờ hai năm nữa là ý nghĩa ra sao. Vào một hôm trước ngày 7 tháng 7, các con tôi lên thăm anh Tam về cho biết bác có trát đòi và chắc bác ra tòa xử ngày mai, và chắc họ sẽ kết tội bác phá rối trị an và bỏ tù bác chứ không tha đâu. Tôi vội lên thăm anh Tam ngay. Tôi thấy hai con mắt anh sáng ngời, vẻ mặt hồng hào.”(Trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 158).
Những lời bộc bạch tự nhiên của bà Thế giúp tôi nghĩ rằng những suy nghĩ về cái chết của Nhất Linh về nguyên do đưa đến cái chết ấy đã không đi trật đường. Phải chăng điều căn bản, không chối cãi được ở đây là ông đã tự chọn lựa một cái chết cho mình mà 1963 chỉ là điểm chung cuộc?
Trước hay sau, ông sẽ tìm cái chết như một giải thoát hơn là một thái độ phản kháng.
Tôi đã tự đặt cho mình những câu hỏi như thế và đã lắng nghe những biện luận đồng thuận của anh Duy Lam là: Cái chết của nhà văn Nhất Linh là một cái chết định sẵn. Nhất Linh nhà văn có phải là một con người bình thường khi quyết định việc tự tử nhằm chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm không? Việc tự tử đó có thể coi là một hành vi, hay một quyết định sáng suốt của một người biết mình phải làm gì? Nó có bị chi phối, ảnh hưởng hay thúc đẩy bởi một động lực tâm lý, một quá trình đời sống với gánh nặng quá khứ chán nản và tuyệt vọng của một người không còn làm chủ được đời mình không? Việc tự tử là một giải thoát cho chính ông? Hay là một hành vi dùng cái chết để chống đối một chế độ? Phải đắn đo và công bằng với lịch sử để trả lời những câu hỏi này.
Tôi nghĩ rằng những tiết lộ của Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn, giúp chúng ta một phần để trả lời hai câu hỏi trên.
“ Nhất Linh thường viết trong đêm khuy khoắt. Những khi giật mình thức giấc nửa đêm tôi thường thấy, qua khe cửa, đèn trong phòng ông còn bật sáng. Có đêm lũ chúng tôi lòm còm bò dậy vì còn tiếng khóc trong phòng cha tôi. Tiếng khóc lúc đầu còn nhỏ sau lớn dần không kìm hãm được. Lũ chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau… Không ai có thể đoán biết ông khóc cái gì, ngay cả mẹ tôi cũng không thể nào biết được. Nhưng sự khám phá này đã gieo vào tuổi thơ của tôi một ấn tượng mạnh mẽ, rằng cha tôi là một người cô đơn và đau khổ. Ngoài ra những giấc mơ kỳ lạ và kinh hãi cũng được tôi hình dung thấy qua giấc ngủ của ông, qua cách ông trằn trọc ú ớ trong đêm”.(“Nhất Linh cha tôi”. Nguyễn Tường Thiết, trang 19)
Những tiếng khóc về đêm khuya khoắt là dấu hiệu một tình trạng bệnh trầm cảm, cô đơn và tuyệt vọng? Thoạt đầu tiên khi làm báo, ông lấy tên báo là “Tiếng cười”. Nhưng cả cuộc đời ông chỉ là những”tiếng khóc”.
Đọc tiếp những trang hồi ký của Nguyễn Tường Thiết thật không cầm nổi xúc động. Nhưng cũng cho thấy rằng, Nhất Linh đã chuẩn bị cái chết của mình một cách chu đáo, từng chi tiết một.
 
Đó là giai đọan suicidal attempt.
Đến Nguyễn Tường Triệu, con trai ông, ở cạnh ông cũng bị ông qua mặt, bị ông đánh lừa trước mặt, “chỉ 15 phút là xong”. Chẳng khác gì: “Chỉ tạch một cái” là xong. Nhiều lúc thật bình thản. Như ông từng nói từ năm 1951: ”Tôi mà tự tử thì chẳng ai biết tôi dùng loại độc nào1” (trích bài “Nhất Linh, người định nghĩa sống và chết”, Lưu Văn Vịnh, trong ”Nhất Linh”, nhiều tác giả, trang 177)
Đến đây tôi có thể dám chắc rằng, ý định tự tử đã bám dính vào ông, nhất là ở giai đoạn chót cuộc đời ông. Và ông đã có kế hoạch để tự hủy mà không ai biết được. Từ kế họach tự tử sang đến chỗ thực hiện chỉ là một bước nhảy: Bước nhảy từ cõi sống vào cõi chết. Cần một triggering factor, le facteur déclenchant, chỉ cần một động lực để nhảy, để… lảy cò.
Thần chết đã đến gõ cửa rất lâu trước ngày 7 tháng 7, 1963. Nó đã không tha ông vì ông đã sẵn sàng đi theo như một định mệnh, như một cái nghiệp không tránh được. Ông mới chỉ bị gọi ra tòa. Thế là xong. Ông chỉ chờ có thế. Đó là thời điểm để ông có đủ can đảm thực hiện nếu không muốn nói là ông mong đợi nó đến. Cái trát đòi ra tòa là một facteur déclenchant. Nó đã đến nên mắt ông tươi sáng hẳn lên, mặt ông hồng hào. Ông sống làm gì nữa? Vào tù ư? Để chịu nhục? Để kéo dài sự cô đơn và tuyệt vọng? Chỉ có cái chết giải thoát ông.
Cái chết đã định trước từ lâu? Biến cố 1963 chỉ là giọt nước tràn đầy ly.
Ông Ngô Đình Diệm chỉ là người chịu trách nhiệm xử án ông Nhất Linh. Nhưng trách nhiệm giết ông Nhất Linh. Chính là bạn bè ông, những người đồng chí của ông, những người nước mắt tiễn đưa ông. Tất cả vô tình đã giết ông, vì đã đặt tất cả trách nhiệm lịch sử lên đôi vai ông mà thực sự ông không thể chu toàn được. Một người mà cả cuộc đời làm chính trị là một thất bại. Đến phút cuối cùng trở thành kẻ chiến thắng bằng chính cái chết của mình.
 
Lịch sử quả là trớ trêu và oan nghiệt.
Dù sao, chết như Nhất Linh chứng tỏ ông là kẻ sĩ của cả một thời đạị văn học. Thời đại Nhất Linh như ông từng cân nhắc viết: ”Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm những việc mình đã làm, tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác”.
Bài toán về cái chết của ông coi như đã được giải đáp một phần nào trong lời thú nhận chót của ông.
Ông đã chết vì kỳ vọng của chính mình và của các đồng chí của ông. Điều chắc chắên là ông đã chết sung sướng và có thể mỉm cười nơi chín suối. Dòngsuối đam mê bên những giòlan rừng. Đó mới là chỗ ông về và đem lại cho ông những phút thư thái nhất lúc sống cũng như lúc chết.
 
California, 11/2/2008
Nguyễn Văn Lục
 
***
Phần Phụ Lục
Nguyễn Thị Vinh, Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn
 
Có rất nhiều người đàn bà trong Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) mà theo tôi không có họ thì không có Nhất Linh, không có Thạch Lam, không có Duy Lam, không có Thế Uyên. Họ tưởng chừng như không có dính dáng gì đến văn học. Vậy mà không có họ thì có thể nói khó có TLVĐ. Bà mẹ Nhất Linh, bà vợ Nhất Linh hay bà Nguyễn Thị Thế, em ruột Nhất Linh. Như lời bà Nguyễn Thị Thế viết về mẹ ruột mình: ”Một mình mẹ tôi buôn bán phụng dưỡng mẹ chồng và nuôi đàn con ăn học thành tài, giá như người khác, các anh tôi chỉ có đi làm thợ hay đi làm thuê thôi” (Trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 132). Riêng ông bà Nhất Linh. Họ khác nhau về đủ thứ. Quanh năm ngày tháng, Nhất Linh bỏ đi. Con cái như Nguyễn Tường Thiết nhiều khi lâu không gặp bố thấy xa lạ. Nhất Linh lúc ở bên Tàu, lúc ở Đà Lạt, vậy mà cái bóng của bà Nhất Linh vẫn phủ lên đời ông? Bà Nhất Linh trả lời như sau về đời sống gia đình của bà: ”Tôi lấy nhà tôi là do cha mẹ mối manh, dạm hỏi và cưới xin linh đình. Khi tôi về nhà chồng rồi thì chỉ biết lo buôn bán để gánh vác giang sơn nhà chồng, làm gì có thì giờ đọc sách, đọc báo ạ? Với lại sách báo là việc của đàn ông, đàn bà mình ngó vào làm gì?” (Trích bài viết của nữ sĩ Anh Thơ về Nhất Linh, “Nhất Linh, nhiều tác giả” trang 107) Trong văn chương, truyện ngắn Người Quay Tơ, phải chăng nhân vật nữ người quay tơ là hiện thân của bà Phạm Thị Nguyên, vợ Nhất Linh và nhân vật ông Tú phải chăng là chính là Nhất Linh? Rồi còn lá thư tuyệt mệnh để lại cho bà trước khi tự tử. “Mình, mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.” Di chúc cho vợ mà ông nhắc nhở đến mối tình của đôi ta thay vì nói tới tình nghĩa vợ chồng. Kể là đẹp và trọn vẹn.
Chính anh Duy Lam sau này theo nghiệp văn cũng là do ý muốn của mẹ anh. Bà Thế chỉ mong sau này con trai bà trở thành nhà văn như những người của dòng họ Nguyễn Tường. Và giấc mơ của người mẹ đã thành hiện thực.
Nhưng còn những người đàn bà trong văn chương TLVĐ? Trong truyện và trong đời sống? Trong văn chương, Nhất Linh đã mê một thiếu nữ mà ông đặt tên là “cô áo trắng”. Cô áo trắng trong đời sống sau này, theo Huy Cận tiết lộ, chính là nhân vật truyện tên Thu trong tiểu thuyết Bướm Trắng của Nhất Linh..
Còn trong đời thường, đó là trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh khi ở bên Tàu. Với tư cách là đồng chí, là người bạn, là người tình, là bạn văn? Hay là tất cả những thứ đó cộng lại?
Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết và trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này. Nhưng chỉ biết rằng hai chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội, rồi sau này bà Nguyễn Thị Vinh, lấy Trương Bảo Sơn, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Phải chăng vì mối liên hệ đảng phái mà sau này bà Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là khi trôi dạt sang Tàu, vợ chồng Trương Bảo Sơn, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh sống chung một nhà. Chính ông Trương Bảo Sơn viết về những kỷ niệm riêng với Nhất Linh cho biết như sau: ”Lần đầu tiên tôi được gặp ông, tiếp xúc với ông là ở chiến khu Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), trong tỉnh Vĩnh Yên, sau khi ông từ chức Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp kháng chiến, trên đường ông đi sang Trung Hoa, ở Côn Minh, Trùng Khánh, rồi Thượng Hải. Nơi đây tôi gặp ông lần thứ hai vào cuối năm 1946. (trích “Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”, trong “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 69).
Nhưng mãi đến năm 1948, nghĩa là ba năm sau, bà Nguyễn Thị Vinh, vợ ông Trương Bảo Sơn đã cùng con gái ba tuổi từ Hà Nội mới sang ở với ông Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết với Nhất Linh. Cũng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn Thương Yêu và bà Linh Bảo viết cuốn Gió Bấc.
Khi ở bên Tàu, còn có nhiều người như ông Nguyễn Gia Trí, Đỗ Đình Đạo, Trần Văn Tuyên, Phan Quang Đán, Nguyễn Văn Hợi cùng ở chung với Nhất Linh. Hoặc tới hội họp như cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Bảo Toàn, Lưu Đức Trung, Tạ Nguyên Hải. Khi ở chung, cũng có xảy ra những chuyện cãi cọ như giữa Nguyễn Gia Trí, Trương Bảo Sơn? Sau này Nguyễn Tường Ánh, lúc đó chỉ là một cậu bé hơn 10 tuổi đầu, đã có dịp chứng kiến những màn cãi nhau đó. Dĩ nhiên là Nguyễn Tường Ánh “bất đắc dĩ” có dịp nhìn thấy hết. Có thể có một mối tình tay ba, tay tư không? Tôi tin là có, khi nhìn lại những hình ảnh Nhất Linh ôm ẵm và cưng chiều con gái út của Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. Điều gì cũng có thể xảy ra được. Sau này, khi đọc hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, em gái Nhất Linh và là mẹ các nhà văn Duy Lam và Thế Uyên, có đoạn kể về cô con gái nuôi, Trương Kim Anh, này như sau: ”Khi tôi dở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, thời có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ hỏi cháu Thoa thời nó cho biết có con gái nuôi của cậu cháu (con gái chị Nguyễn Thị Vinh) tối qua đem sáo vào nhà xác thổi suốt đêm cho ông nghe. Thổi xong nó tặng luôn chiếc sáo và nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu. (trích “Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường”, Nguyễn Thị Thế, trang 159). Trong bài “Tưởng nhớ về Nhất Linh”, cô Trương Kim Anh đã viết như sau: “Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản Thiên Thai, bản mà bác thường bảo tôi thổi mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cữu. (Trích “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 153).
Trong mục “Lan Hàm tiếu” dành cho các thiếu nhi trên VHNN, Nhất Linh đã không quên mà người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh qua cháu Trương Kim Anh. Em bé Trương Kim Anh, lúc ấy 12 tuổi đã tập tành viết văn như mẹ cháu, dưới sự hướng dẫn của bác Nhất Linh qua tác phẩm đầu tay của cháu “Ở vậy”.
Người ở lại sau cùng trong cái đêm cuối cùng trước khi Nhất Linh đi vào lòng đất là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái. Và trước khi tuẫn tiết, ngoài bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cũng lại là bà Nguyễn Thị Vinh. Trương Kim Anh kể lại: “Mãi sau này tôi mới biết, chuyện quan trọng đó là: bác Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một số bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “Ông Trương Bảo Sơn”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ngoặc kép này… Khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thúy nhìn xuống nhà mình, tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi.”
Đây là một cử chỉ chỉ có người trong cuộc, trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.
Cô Trương Kim Anh, con nuôi của Nhất Linh, sau này lấy nhà văn Dương Kiền. Theo các con cháu của Nhất Linh như anh Duy Lam, cũng cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc. Nhưng trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh khi nói về Nhất Linh thì bà thường làm ra cái vẻ như thể bà là người tình của Nhất Linh, hay đóng kịch như thế và gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc đặc biệt..
Nhưng hay nhất vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày: “Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian qua đi già nửa thế kỷ, đã từng được ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi, mà sao tôi vẫn không thể quên được, túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ơi mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm”. (Trích “Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ”, trang 85/86).
Khó quên là phải. Làm sao quên được. Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh theo nhân xét vài người quen biết của bà trước đây hay người trong gia đình Nhất Linh cho biết là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn. Gần như không có một biên giới nào. Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay nhau thì cũng là chuyện đành phải là như vậy. Sau khi Nhất Linh chết vào năm 1963, bà Nguyễn Thị Vinh thường đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở nghĩa trang Bắc Việt ở Hạnh Thông Tây. Mộ Nhất Linh gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh cắm vào bốn góc mộ, sau đó mở hai chai lade 33 tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh. Nhất Linh khi còn sống hút thuốc lá Bastos xanh không ngừng và khoái uống la de. Cậu thanh niên Nguyễn Hữu Nhật đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà của nữ thi sĩ Trần Thị Tuệ Mai, con cụ Á Nam Trần Tuấn Khải. Một hôm ông Nguyễn Hữu Nhật cùng hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh dù đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật tên Bình. Vài tuần sau, hai người kết thành đôi lứa, ông Nhật từ hôn với cô Bình và sau này Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh cho đến ngày hôm nay mặc dù tuổi tác hai bên chênh lệnh nhau có thể đến trên dưới 20 năm.
Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ và như có sự chứng giám của một người đã chết. Sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ hay trong đời sống Nhất Linh hình như chỉ là một?
 
(Nguyễn Văn Lục)


[1] http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=90


Bài đã đăng của Nguyễn Văn Lục

2 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Tuy khó có thể kiểm chứng được đầy đủ, nhưng đây là một bài viết rất thuyết phục, đáng quý về tính tư liệu lịch sử và nhân văn. -Tran

Cám ơn tác giả Nguyễn Văn Lục đã giúp cho tôi được một trận cười gần bể bụng. Đây là loại “phân-tích với tiền-kết-luận” (pre-conceived analysis) có khả năng rất lớn để đưa tác giả vào tình trạng delusional. Ngay cả tư liệu sử dụng cũng trật lất. Thay vì nghiền ngẫm, sục sạo trong “Chúc thư văn học” của năm 1953 để tìm nguyên nhân cái chết 10 năm sau của Nhất Linh thì một người phân tích bình thường phải nhìn kỹ vào “Chúc thư chính trị” năm 1963 chứ. Tác giả Nguyễn Văn Lục thích phân tích chính trị mà không thấy (dĩ nhiên là đã thấy nhưng phải lờ đi) một kho tàng trong “Chúc thư chính trị” đó. Kho tàng ấy là lời kết tội chính xác nhà Ngô sẽ “đưa đất nước rơi vào tay Cộng sản” từ năm 1963. Xin đọc thêm bài “Mưu tính đưa Nhất Linh vào nhà thương điên” của tác giả Vũ Cầm đã được đăng trên VietWeekly số ngày 27/3/2008 và post trên Talawas (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12686&rb=0102). -Ly Nguyen Dieu