Nguyễn Đức Tùng: Tranh luận văn học (II)

Nguyễn Đức Tùng

Tranh luận văn học
(Tiếp theo)
 
Có một sự nhầm lẫn rất lớn hiện nay giữa tự do biểu đạt, sáng tác hay tranh luận của nhà văn về mặt chính trị và về mặt nghề nghiệp. Chúng ta đòi từ bỏ các hình thức kiểm duyệt khác nhau, để được tự do sáng tác và xuất bản, không có nghĩa là chúng ta tự trao cho mình quyền được viết bất cứ điều gì mà không quan tâm đến tác động của tác phẩm văn học lên độc giả và xã hội. Trong lịch sử không thiếu những trường hợp mà sự lạm dụng quyền lực cao nhất, gây tác hại nhất, là sự lạm dụng ngòi bút, lạm dụng chữ nghĩa. Nhưng ngay cả trong những trường hợp tệ hại như thế đi nữa, xã hội đều có cách để tiến hành các kiểm soát của nó dựa trên sự phản hồi của dư luận độc giả. Một lần nữa, chỉ có tự do trao đổi mới làm cho dư luận này trở nên khả dĩ đối với chúng ta. Dù người viết sáng tạo trong hoàn cảnh bị ngược đãi, hay trong trạng thái tự do thật sự, thì họ cũng không được hạ thấp các tiêu chuẩn nghệ thuật của tác phẩm của mình. Chẳng hạn như chúng ta sẽ dễ dàng đồng ý với nhau rằng cần phải kiểm duyệt để không đưa các sách báo khiêu dâm vào các trường tiểu học, nhưng chúng ta sẽ không dễ dàng đồng ý với nhau như thế trên những vấn đề khác, ví dụ như: nói tục trong văn chương có được phép không, các sách báo tình dục (porno) có nên bị cấm xuất bản hay không, hôn nhân đồng tính luyến ái, tác động của chúng đối với thanh thiếu niên ra sao, v.v… Không có một câu trả lời tốt nhất nào cho các vấn đề khó khăn tương tự, chừng nào chúng ta không có các tranh luận được khuyến khích công khai.
 
Thảo luận và tranh luận văn học là một hình thức của giới thiệu và phê bình đối với các vấn đề và các tác phẩm, nhưng là một hình thức đặc biệt. Thật ra bản thân việc đọc một tác phẩm tự nó đã là một cuộc đối thoại giữa người đọc và người viết. Trong cuộc đối thoại im lặng đó, người đọc là kẻ có tiếng nói cuối cùng. Tác giả không có cơ hội để nói một điều gì khác sau khi cuốn sách đã được in ra. Vì vậy, một cách tự nhiên, anh/chị ta sẽ hết sức cảm kích đối với những cơ hội mà một tờ báo hay một nhà phê bình mang lại cho anh/chị ta, trong đó người viết được quyền trình bày lại, giải thích thêm về một chi tiết hay một vấn đề, không phải để làm thay đổi tác phẩm, điều này dĩ nhiên là bất khả một khi tác phẩm đã xong, nhưng là để chuẩn bị tốt hơn cho người đọc trước khi người này đưa ra phán quyết cuối cùng của mình đối với tác phẩm.
Cũng như bất kỳ một cuộc đối thoại nào, các đối thoại văn học giữa người đọc và người viết hay người đọc và tác phẩm như thế chỉ có thể là những cuộc đối thoại tốt đẹp, bổ ích, lý thú, khi nó được tiến hành một cách có phương pháp và đầy tính trí thức. Các phương pháp là những điều mà người ta có thể học hỏi được, trong sách vở hoặc ở người khác. Khi chúng ta đồng ý với một người nào thì đồng thời chúng ta cũng nhận ra những cơ sở của sự bất đồng ý, và ngược lại. Nhiệm vụ của nhà văn, cũng như các nhà nghiên cứu và phê bình, là hướng dẫn người đọc, làm cho họ vượt lên từ giai đoạn của người mới đọc (beginners) đến trung bình, và từ trung bình (mature readers) lên các trình độ cao hơn (good readers), như là một cách để bổ sung đội ngũ những người đọc chuyên viên. Những người đọc chuyên viên này đến lượt họ lại trở thành các bậc thầy của các nhà văn, nhà thơ, người sáng tác.
Tôi xin mở ngoặc để nói về một hiện tượng tranh luận đặc biệt trên báo chí liên mạng. Dưới một số bài viết, đôi khi các nhà biên tập cho phép sự góp ý, phản hồi, tranh luận của độc giả. Dù các nhà biên tập có trách nhiệm đến đâu cũng không thể bao quát được hết các thư từ phản hồi bay như bươm bướm. Các góp ý phản hồi này trong khi tạo ra một “sân chơi” nhộn nhịp có tính giải trí, thực ra không có đóng góp nhiều vào sự phát triển văn học. Nếu các nhà phê bình có trình độ thẩm mĩ cao (số này có thể đếm trên đầu ngón tay) chịu khó đọc các trang “thư độc giả” sẽ nhận ra rằng trình độ chung của độc giả chúng ta hiện nay, xét đơn thuần về kĩ năng thưởng thức văn học, đang ở mức thấp một cách đáng buồn. Đóng ngoặc.
Mục đích của tranh luận văn học còn là tạo ra một phong trào đọc văn học, góp phần tạo ra một lớp người đọc mới, những người biết chọn lựa cái gì để đọc và đọc như thế nào. Nói cho cùng bất cứ một hành động đọc nào cũng mang tính phê bình. Bất cứ sự đọc nào cũng mang đặc tính của sự thích thú, thưởng thức, nhưng sự thích thú chỉ bền vững đối với các tác phẩm có giá trị văn học. Sự thẩm định giá trị văn học của một tác phẩm không bao giờ dễ dàng và thậm chí không thể giống nhau ở những người khác nhau. Mặc dù vậy, sự thẩm định này bao giờ cũng dựa trên hai đặc tính căn bản. Một là cách biểu đạt nghệ thuật của tác phẩm có xứng đáng và thích hợp với mục đích của tác phẩm hay không. Ví dụ một bài thơ nói về tình mẫu tử có làm cho người đọc nghĩ về tình mẫu tử hay không, v.v…Thứ hai là, nếu tác phẩm được biểu đạt thông qua một nghệ thuật thành công, giá trị của nó là những giá trị nào.
Không thể không nói đến khái niệm cộng đồng của các nhà văn (nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà phê bình, nhà tiểu luận, v.v…). Nếu định nghĩa các giai cấp dựa trên các yếu tố kinh tế, thì định nghĩa của cộng đồng dựa trên sự gần gũi (như làng xóm, trường lớp) hoặc trên sự tương thông và cùng chia sẻ các quan tâm (các hội đoàn chuyên nghiệp, các câu lạc bộ của những người cùng sở thích, v.v…). Cộng đồng nhà văn là một cộng đồng đặc biệt, trong đó mối quan tâm lớn nhất, mặc dù không phải là duy nhất, là tác phẩm. Như thế, động lực của cộng đồng các nhà văn chính là sự sáng tạo.
Cộng đồng nhà văn Việt Nam vừa chia sẻ những đặc điểm chung của các cộng đồng nhà văn các nước trên thế giới vừa mang những đặc tính riêng biệt. Lịch sử cuộc chiến tranh và sự phân cách lâu dài, nhất là mối “hận thù quốc-cộng”, đã làm cho chúng ta trở thành một trong những cộng đồng rời rạc nhất, mà một trong những năng lực còn sót lại của nó may ra là dùng để chống lại sự phân rã lớn hơn, như một người lội ngược dòng nước.
Khái niệm sáng tạo văn học bao gồm những ý niệm khác nhau và không chỉ dừng lại ở các sáng tác như truyện ngắn hay tiểu thuyết mà còn cả ở các công trình nghiên cứu phê bình hay bất cứ một công trình văn học nào có yếu tố sáng tạo, ngay cả các cuộc hội thảo và tranh luận, các bài báo và điểm sách (review), miễn là chúng góp phần tạo nên các ý nghĩa và giá trị mới, và thể hiện ở chúng các tương tác xã hội phức tạp hơn.
Ngày nay, do những thay đổi lớn về văn minh kĩ thuật và cấu trúc xã hội, không một tổ chức nào có thể được dùng như một khái niệm duy nhất để định nghĩa một cá nhân. Một thành viên của một tôn giáo chẳng hạn không chỉ là một tín đồ của tôn giáo đó mà còn có thể là một đảng viên của một đảng chính trị hay một thành viên của một câu lạc bộ bóng đá chẳng hạn. Mỗi một cá nhân có thể mang nhiều khuôn mặt khác nhau. Một nhà văn không chỉ là thành viên của cộng đồng nhà văn mà còn là thành viên của các cộng đồng khác. Đó là chưa kể rằng các nhà văn Việt Nam đành coi việc viết văn là nghề tay trái, nghĩa là họ bắt buộc có một nghề khác để sinh sống, và sự phụ thuộc của họ vào nghề “tay phải” đôi khi có tác động quyết định như những mối ràng buộc bí mật.
Mục đích của thảo luận, hội luận văn học là giúp đi tìm, chỉ ra, và góp phần kiến tạo nên một bầu khí quyển văn chương. Cộng đồng nhà văn không phải là tổ chức của các nhà doanh nghiệp hãnh tiến, nhưng cũng không phải là một câu lạc bộ của người già về hưu có tính cách tương trợ những khi đau yếu, bệnh tật, tang gia bối rối. Các nhà văn Việt Nam hơn bao giờ hết cần một môi trường giao thiệp thân hữu nhưng thẳng thắn, công bằng và văn minh.
Một bầu khí quyển văn chương sôi nổi bao giờ cũng là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo. Nhà văn cần đến khung cảnh làm việc có tính hứng khởi, mối liên hệ giữa các nhà văn với nhau có tính hỗ trợ, và mối liên hệ giữa người đọc và người viết có tính khích lệ. Tất cả những điều đó không phải là văn học, chưa phải là văn học, nhưng là những tiền đề tất yếu cho các tác phẩm trên trung bình và xuất sắc ra đời trong tương lai.
Tôi có đọc đâu đó rằng một nhà văn trong nước, hình như là Bảo Ninh, xin lỗi nếu tôi nhớ lầm, tiên đoán là trong một hoặc hai năm tới, theo anh, chắc chắn Việt Nam sẽ có tác phẩm lớn. Theo tôi, đó là một ảo tưởng đáng yêu. Nhưng quan trọng hơn cả, đó là một giả thuyết không đứng đắn, vì nó cố tình bỏ qua việc xác lập các tiền đề cho một tác phẩm văn học lớn. Tài năng bẩm sinh hay thậm chí thiên tài của một nhà văn là điều chúng ta không thể quyết định được, và do đó không thể tiên đoán được. Nhưng ngay cả khi chúng ta đã có sẵn thiên tài “trong tay”, thì đó chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ. Điều kiện đủ là một môi trường có hai tính chất căn bản, một là tự do, hai là kích thích sáng tạo.
Không nên nhầm lẫn hai tính chất tôi vừa đề cập đến trên đây. Có nhiều người cho rằng trong các chế độ độc tài hoặc khi bị đàn áp, nhà văn có khuynh hướng tạo ra các tác phẩm có giá trị hơn. Ngay cả khi điều này là đúng, nó cũng không thể nào biện hộ cho việc đàn áp, xét về mặt xã hội. Nhưng lại không có bằng chứng là nó đúng. Sự quan sát văn học đối với các thời kỳ khác nhau đem lại những kết quả lẫn lộn và trái ngược để chúng ta có thể dễ dàng kết luận về giả thuyết trên đây. Quá trình sáng tạo của một nhà văn và sự sinh thành một tác phẩm là hết sức phức tạp, không thể nào quy vào các mối liên hệ đơn giản như công thức toán học. Dưới một số chế độ độc tài, môi trường viết có tính kích thích sáng tạo vẫn còn, trong khi đó dưới một số chế độ khác, môi trường này hoàn toàn bị tiêu diệt. Như vậy sự khác nhau là ở mức độ đậm nhạt, nhiều hơn hay ít hơn (matter of degree).
Tôi muốn đi xa hơn để dẫn đến giả thuyết sau đây: một chế độ bị coi là độc tài nhưng vẫn có thể tạo ra các tác phẩm văn học lớn thì tính chất độc tài của nó cũng có tính cách tương đối, và cần được xem xét lại nhiều lần từ những góc độ khác nhau và từ những thời điểm khác nhau.
Thế giới đang chứng kiến sự thay đổi lớn lao về cấu trúc xã hội, cấu trúc của các thành phần và của giai cấp. Vai trò của thành phần xã hội tham gia vào sự sáng tạo, về khoa học và về văn học nghệ thuật, ngày một lớn. Các nhà văn Việt Nam đang ngày càng ý thức hơn về vai trò ưu tiên của họ giữa các lực lượng khác đối với sự phát triển xã hội. Càng như thế, vấn đề tài năng càng được đặt ra. Làm thế nào để chúng ta có những người viết được trang bị những kiến thức căn bản về văn học, về khoa học, về lịch sử và về chính trị? Làm thế nào để mang họ đến trước những cơ hội mới mà sự tương tác giữa Việt Nam và thế giới, giữa hải ngoại và trong nước, đang ngày một mang lại nhiều hơn?
Một nhà văn cần tiếp tục kích thích trí tưởng tượng và sáng tạo. Một số phương pháp được anh ta dùng đến nhiều nhất. Ví dụ như tiếp xúc với các tác phẩm lớn của nhân loại. Bên cạnh việc học ngoại ngữ, việc dịch thuật là quan trọng giúp cho các nhà văn được tiếp cận nhiều hơn các tác phẩm này. Hai là tăng cường tiếp xúc với các nhà văn cùng thời, hoặc là thông qua các dịp gặp gỡ cá nhân, do cá nhân tổ chức, hay là các hội nghị có tính cách chuyên nghiệp, ba là tham gia các cuộc tranh luận trên báo chí. Những phương pháp này không thể thay thế được cách tiếp cận từ bên trong, bằng chính đời sống nội tâm của nhà văn, bằng sự quan sát lặng lẽ của anh ta trong đời sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút; tức là sự quan sát tâm linh, mặc dù thế, chúng cũng giúp cho nhà văn có những cảm hứng cần thiết quan trọng.
Người ta thường nói về sức mạnh và lòng tự trọng của nhà văn. Điều này không những là những giá trị có tính cách xã hội mà còn là những phẩm chất tự thân có tính sáng tạo. Chúng là niềm tin chắc chắn của người viết về những giá trị mà anh ta muốn mang đến cho người đọc, là cảm giác trách nhiệm của người dẫn đường. Các sáng tác văn học thường mang tính xúc cảm và được chỉ huy bởi những động lực ngoài ý thức mà nhà văn không thể nào nhận ra một cách rõ ràng được. Tuy vậy, anh ta cần suốt đời theo đuổi niềm tin tưởng rằng công việc của anh ta là quan trọng và mạnh hơn bất kỳ một sức ép xã hội nào khác.
Giữa những thời gian làm việc căng thẳng, nhà văn cũng cần được nghỉ ngơi và thay đổi cách thức hoạt động. Các hội thảo và tranh luận văn học nếu được thực hiện tốt sẽ tạo ra những kỳ nghỉ tinh thần nhẹ nhàng và tích cực cho những người viết có kế hoạch lâu dài. Sự học hỏi đối với kỹ năng viết và đọc ở các nhà văn tài năng đi trước là điều mà bất cứ người viết nào cũng hết sức ao ước, bởi vì đối với họ, sống đầy đủ cuộc đời mình một cách ý nghĩa chính là khi họ trở thành một phương tiện của văn học.
Món quà to lớn mà công việc sáng tạo mang lại cho nhà văn là cái nhìn xuyên qua tấm màn che mặt vào những thế giới khác đằng sau các biên giới hiện thực thông thường, những thế giới của tình thần, có tính vĩnh cửu hơn. Khi nhận được những món quà như thế, không ai muốn từ chối để được quay lại thế giới đó lần thứ hai. Bởi vậy mà các nhà văn Việt Nam chúng ta mặc dù trải qua biết bao hoàn cảnh khó khăn, nghiệt ngã, thậm chí bị tù đày, bị đàn áp, vẫn không chịu rời bỏ ngòi bút của mình, và tiếp tục viết, nhiều khi trong cô đơn, bệnh tật, nghèo khó. Những người như thế cần được biết đến và cần được mang lại những điều kiện tốt đẹp hơn. Viết đến đây tôi nghĩ đến những người đã mất hay còn sống như Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng… và dĩ nhiên rất nhiều người khác không thể nào kể hết được.
Xã hội càng văn minh, con người càng có nhiều lối đi. Nhưng điều đó không làm cho sự chọn lựa của họ trở nên dễ dàng. Trong đời sống mỗi người, các bước đi, các bước ngoặt tạo nên số phận. Điều đó cũng đúng đối với một đất nước. Góp phần vào việc chọn lựa các hướng đi này của đất nước chúng ta là tiếng nói của nhà văn, thông qua tác phẩm và và tranh luận. Mục đích của các trao đổi, tranh luận, hội luận bao giờ cũng là thông qua các giải thích mà đi tìm sự thật.
 
Lịch sử của một dân tộc càng nhiều sự giả dối thì văn học của dân tộc ấy càng cần nhiều sự thật. Chỉ có sự thật, và việc trình bày sự thật ấy một cách nghệ thuật, khiêm cung và thuyết phục, mới là gốc rễ của hội nhập, kết hợp, hay xa hơn, hòa giải, hòa hợp. Cùng với nhiều người, tôi tin rằng chỉ có sự thật mới chiếu sáng khuôn mặt của văn chương Việt Nam.
 
15 Feb 2008

Nguyễn Đức Tùng


Bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

6 phản hồi/comments

Comments feed for this article

Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Xin nhiệt liệt hoan nghênh bài viết sâu sắc và xuất sắc của Nguyễn Đức Tùng! Xin có mấy góp ý (chung chung) sau đây với BBT:

1. Bài viết này có dài thì BBT cũng nên “đặc cách” cho đăng luôn một kỳ. Chắc có nhiều độc giả cũng như tôi, sốt ruột mong được đọc… một lèo, và như vậy, không bị đứt mạch suy nghĩ theo dõi của mình.
2. Đọc phần 1 của anh Tùng, tôi băn khoăn thắc thỏm: sao chưa thấy nói gì đến độc giả, thì phần 2, cứ như “đi guốc trong ruột người”, anh đề cập đến bộ phận quan trọng nhất này, trong quá trình hình thành giá trị và sự sống còn của tác phẩm văn học.
3. Mong được đọc một, hai bài của các tác gia trong nước đề cập và đánh giá “bộ phận người đọc” trong nước. Theo sự tiếp cận của cá nhân tôi thì ngoài “những người trong cuộc: những người viết lách”, bà con, bạn bè tôi không thấy ai đọc gì…nghiêm chỉnh. Tôi kể tên một vài nhà văn, nhà thơ trong nước họ cũng không biết, nói gì đến người viết tiếng Việt ở nước ngoài.
4. Cũng thật thú vị khi anh Tùng đề cao ý nghĩa của sự trao đổi và phê bình, trao đổi giữa tác giả và nhà phê bình, trao đổi giữa người viết và người đọc.
5. Có lẽ do kinh nghiệm tiếp cận với nhiều tác giả trong và ngoài nước qua những loạt bài phỏng vấn xuất sắc của anh mà Nguyễn Đức Tùng đã tổng kết được nhiều vấn đề cốt lõi của đọc, viết, phê bình, tranh luận, trong ngoài.
6. Hoan nghênh anh Nguyễn Đức Tùng. Đã “hô khẩu hiệu” rồi vẫn phải hô nữa!

7. Về Phỏng vấn:
Tôi thích cách trả lời phỏng vấn của anh Nguyễn Đình Chính, thẳng thắn, ngắn gọn, đi thẳng vào đề. Ở thời buổi tốc độ, anh trả lời “rất hậu hiện đại”, có là có, không là không, không thèm ỡm ờ, nửa nạc nửa mỡ (để dễ bề lật lại vấn đề, nếu có ai bắt bẻ?) Trả lời như anh, người nói “toé lửa” thì người đọc cũng “toé khói”, nghĩa là hai đằng, đằng nào cũng…máu, cũng được…nổi điên!
Anh Nguyễn Văn Lục dùng diễn đàn Hội Luận để kêu gọi đóng góp bài vở cho tờ báo mà anh là chủ bút? Tôi thấy “quảng cáo” như vậy không thích hợp. Anh Lục cũng phát biểu về Đỗ Hoàng Diệu là anh có liên lạc với Đỗ Hoàng Diệu, nhưng bây giờ cô ấy lấy chồng rồi thì anh không liên lạc nữa vì “lấy chồng là hết rồi”!!! Ông chủ bút TV phát biểu về nhà văn hay ghê!?

8. Cuối cùng, tôi cũng như Nguyễn Đức Tùng không cầu chúc mà tin tưởng rằng cuộc Hội Luận này sẽ mở ra “một môi trường lành mạnh, sôi động…” và “rất vui vẻ” cho văn học, văn chương Việt trong và ngoài nước.

Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Kính chào BBT,

Là một người đọc, tôi thấy tác giả Nguyễn Đức Tùng viết :”Nhiệm vụ của nhà văn, cũng như các nhà nghiên cứu và phê bình, là hướng dẫn người đọc, làm cho họ vượt lên từ giai đoạn của người mới đọc (beginners) đến trung bình (mature readers), và từ trung bình lên các trình độ cao hơn (good readers) như là một cách bổ sung đội ngũ những người đọc chuyên viên”, tôi tự xét mình mới ở trình độ bắt đầu theo ông Nguyễn Đức Tùng. Nhưng tôi lại hổng chịu cái cách xác định “nhiệm vụ nhà văn, cũng như các nhà nghiên cứu và phê bình, là hướng dẫn người đọc, làm cho họ vượt lên từ…”

Thiệt tình ra, người đọc văn không hoàn toàn lệ thuộc vào nhà văn, do vậy nhà văn không cần phải có “nhiệm vụ hướng dẫn người đọc” như thầy giáo dạy học trò. Thứ nữa, sự tương tác giữa người viết và người đọc là một bắt gặp tình cờ, tự nguyện, hoàn toàn tự do, và độc lập, không bị gò ép vì nếu phải bị áp lực từ nhà văn mình mới đọc và nâng trình độ đọc lên mức “trung bình”, rồi “mức cao”, thì việc đọc sách kể ra hết còn hứng thú. Lúc bấy giờ không còn là “đọc sách” mà là phải “học sách” rồi.

Nhơn đây, nhắc lại, tác giả Thiếu Sơn, hồi 1935, có phân biệt ra bốn hạng người đọc như sau:
1/ “Hạng công chúng rất chăm chỉ sốt sắng, thường đọc hết thảy những sách đã xuất bản. Hạng này là hạng văn sĩ chưa ra đời nhưng vẫn đang dự bị.”
2/ “Hạng muốn tìm văn chương, những câu trả lời cho những vấn đề khó giải trong đời của họ. Họ buồn duyên, tủi phân, họ thất vọng, thất tình họ chán đời thực tế rồi họ muốn làm bạn với những nhân vật văn chương. Vì những người này thường có những tâm lý phiền phức, tương tợ như cái tâm lý của họ.”
3/”Hạng này không phải là những nhà văn tương lai mà cũng không phải là những thiếu phụ lãng mạn; hạng này là hạng trí thức, phần nhiều đã có nghề nghiệp rồi muốn đọc văn chương để biết cái trình độ văn học và để hiểu rõ cái xu hướng của văn chương.”
4/ “Hạng thứ tư là hạng công chúng bác tạp, đọc văn không có mục đích nào khác hơn là để “giết thì giờ”. Họ gặp gì đọc cái đó, đọc trong khi không biết làm gì nhưng tới khi có cuộc vui khác thì họ chẳng ngần ngừ bỏ sách rồi quên đi. Có khi quên mà không thèm đọc tiếp nữa.”
(Trích trong bộ sách “13 năm Tranh luận Văn Học” của Thanh Lãng, quyển 1, trang 221,nhà xuất bản Văn Học, Việt Nam, 1995)

Và có lẽ tôi lại là loại người đọc thuộc vào “hạng 4″ trong bảng phân loại của Thiếu Sơn là đúng hơn.

Trân trọng.

Hai Trầu

Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Kính anh Hai Trầu,

Tất nhiên là anh viết cho Nguyễn Đức Tùng chớ không phải cho “tuôi”. Nhưng tôi/tui/tuôi thấy mình suy nghĩ giống…hơi y chang như NĐT nên mạo muội/lanh chanh/hớt lẻo “trao đổi” với anh. Tôi không lý luận giỏi như các nhà phê bình lý luận chuyên nghiệp, nên không dùng từ “tranh luận” hơi đao to búa lớn một chút đối với tôi. Nhưng nói cho cùng “trao đổi” hay “tranh luận” nôm na là “nói cho nhau nghe, chia sẻ với nhau, và biết cùng nhau lắng nghe”. Ai trong chúng ta cũng không quên được chuyện vui: Hai anh chị trẻ mới cưới nhau thì chồng nói vợ nghe, vợ nói chồng nghe, đại khái vài năm sau thì chồng nói chồng nghe, vợ nói vợ nghe, vài năm nữa thì hai vợ chồng cùng nói và…hàng xóm nghe. Tôi mong Hội Luận của chúng ta KHÔNG như thế!

Trở lại chủ đề: Quan hệ nhà văn, nhà phê bình và người đọc có phải là quan hệ thầy trò như anh Hai nói không? Không. Dứt khoát là không.

1. Nhà văn/nhà thơ/nhạc sĩ/hoạ sĩ [nói chung người sáng tác] nào muốn nâng trình độ độc giả/người thưởng ngoạn lên từ hạng bắt đầu lên trung bình lên cao hơn là những người sáng tác có nghiên cứu, có tìm tòi, không chìu theo thị hiếu quen lối mòn của người đọc, DÁM CÓ THỬ NGHIỆM MỚI MÀ KHÔNG SỢ MẬT CÔNG CHÚNG. Nhà văn best-seller cứ chuyên viết một thể loại “ăn khách” rồi đứng đó dậm chân tại chỗ thì sẽ không có tác phẩm lớn. Trường hợp Kim Dung đã là thành công vang dội với thể loại kiếm hiệp được làm mới dưới tay ông, nhưng đến một lúc nào đó, nếu không tự làm mới mình được thêm nữa thì cũng phải tự dừng lại.
2. Nhà phê bình, nhà nghiên cứu là những chuyên gia. Họ nghiên cứu, thu thập tài liệu, tư duy, khám phá… và chia sẻ kiến thức với bạn đọc, và tất nhiên cũng LẮNG NGHE sự phê phán, TRAO ĐỔI kiến thức đến từ phía bạn đọc.
3. Xã hội ngày nay là một xã hội mở, kiến thức thì mênh mông, cứ nhào vào internet là cái gì cũng có, chuyện nào cũng biết, nhưng vai trò chuyên gia vẫn vô cùng cần thiết. Giang hồ càng rộng mở, nhiều giọng nói cùng cất lên thì người nghe không có nội lực càng dễ bị “tẩu hoả nhập ma”, biết ai là phải ai là trái, nghe ai và bỏ ai?
4. Có lẽ anh Hai hơi “rớt vào” tâm lý “nhị nguyên” và “nọa tính” “đối trọng”: hễ cứ làm độc giả thì suốt đời là độc giả, người viết thì cứ muôn đời là người viết. Đấy, thì như anh Tùng viết, anh Hai đọc, anh Hai viết, anh Tùng đọc, có thể anh Tùng sẽ viết lại, anh Hai viết, tôi đọc, rồi tôi…viết lại. Vậy quan hệ của chúng ta, theo anh Hai thì ai là thầy và ai là trò? Cứ tạm chấp nhận cái quan điểm khá gượng ép “thầy trò” của anh Hai thì nãy giờ tôi hình dung một lớp học như thế này: Anh Nguyễn Đức Tùng cầm cục phấn, chuyện đời xưa, đời nay thì thầy cô giáo lấy ngón tay quệt qua quệt lại trên cái smart board, à anh Tùng chỉ tay năm ngón giảng giải gì đó, anh Hai ngồi nghe, tới phiên anh Hai bước lên bảng quệt qua quệt lại, tới phiên anh Tùng ngồi xuống dưới nghe, tôi đứng ngoài cửa sổ thò đầu vô thấy zui quá thì đứng lại nghe, đứng nghe thì (giơ tay lên xin phát biểu) vậy là tới phiên anh Hai với anh Tùng phải nghe…”tuôi”.
5. Không cứ biết chữ là thành…người đọc, không cứ biết viết là thành…người viết, nên Thiếu Sơn mới khách quan/vô tư chia 4 loại người đọc, Nguyễn Đức Tùng ưu tư/thương người hơn nên chia thành 3 trình độ đọc.
6. Kết: Nguyễn Đức Tùng tiên đoán như thần, nghĩa là “Hội Luận sẽ rất vui vẻ”, “tuôi” nói thêm, ”vì chúng ta được nói và được nghe nhau.”

7. Nhắn Đỗ Quyên đừng có “réo” tôi viết “tham luận”, tôi chỉ có “tham” thôi, không có “luận” đâu!

Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Vũ Hoàng Nguyên

Đọc sách hay đọc báo thường xuyên – không ít thì nhiều – mở mang được kiến thức của người đọc. Nói nôm na theo Nguyễn Đức Tùng thì người đọc từ từ nâng sự hiểu biết của mình qua mới, trung, và cao. “Nhiệm vụ của nhà văn, cũng như các nhà nghiên cứu và phê bình, là hướng dẫn người đọc…” – đó là điều mà người cầm bút nhắm tới. Nhưng người cầm bút có làm được điều đó hay không tùy vào từng cá nhân của người đọc. Người cầm bút không ít thì nhiều, qua ngòi bút, họ có thể thay đổi cách suy nghĩ của đại đa số quần chúng. Như thế thì chuyện hướng dẫn người đọc mà Nguyễn Đức Tùng nói đến cũng đúng chứ không phải sai. Ngay cả trên lãnh vực viết cũng có nhiều cấp độ khác nhau. Viết cho độc giả bình dân thì sẽ được viết theo trình độ bình dân, để người viết có thể chuyên chở điều mình muốn nói vào lòng của độc giả bình dân. Viết cho các nhà chuyên môn thì bài viết được sử dụng nhiều từ ngữ chuyên môn mà người bình dân khó mà hiểu rõ điều người muốn viết. Cho nên người viết phải biết rõ mình viết cho ai đọc để dùng từ ngữ và chuyên chở điều mình muốn nói đến người đọc.

Bài viết của tác giả Nguyễn Đức Tùng có nhận xét rất sắc bén trong việc nhận định về văn học, người viết và người đọc.

Vũ Hoàng Nguyên

Thật ra thì tui không khoái cho lắm với cái chuyện tranh/tham luận với nhà thơ/văn Nguyễn Đức Tùng. Tui không phải là nhà văn, với lại cũng chưa cần nâng cấp cái chuyện đọc điếc của mình (hạng mấy cũng được, no sweat) nên tui không có ý kiến gì với anh ý, nhưng tui lại khoái nhào vô với anh Hai Trầu và chị Hoàng Bắc.

Anh Hai Trầu ơi! Mới nghe cái tên anh không là đã thấy thương liền. Theo tui nghĩ, một nhà văn chân chính không có tham vọng làm thầy ai cả. Họ viết trước hết là vì những thôi thúc riêng tư (vì tiếng, vì tiền, vì “ngứa cổ hót chơi” như chim trong lồng, có g đàng hoàng nhé). Sau đó có những người đọc hạng ba như anh tôn họ làm thầy. Người đọc hạng một là những nhà lý luận, phê bình họ xem nhà văn như hạng ăn ở trong nhà (không phải trò) tha hồ giầy đi xéo lại. (NĐT: “Người đọc là kẻ có tiếng nói cuối cùng.”) Tác giả không có cơ hội để nói một điều gì khác sau khi cuốn sách đã được in ra.” Cái “nhiệm vụ hướng dẫn người đọc” nâng cao/hạ xuống trình độ người đọc là cái nhiệm vụ tự phong. Sức mấy, bỏ đi Tám.

Chị Hoàng Bắc ơi! Hội luận mà vui vẻ là hội luận ai nói người đó nghe, xong cuộc ai cũng được phần “nói”. Ví dụ mấy cái hội luận của Hội Nhà văn bên nhà. Chị phong cho NĐT tài Quỷ Cốc tiên sinh đoán như thần thì e hơi sớm. Văn học tự thân là đã hội luận bởi tính đa nguyên của nó. Còn ở đây Hội Luận hình như đặt nặng trọng tâm về văn học hội nhập của văn học Việt Nam thì không có gì mới. Sự tất yếu của trào lưu. Lâu lắm rồi có Hợp Lưu, nay có Talawas, Tiền Vệ, Da Màu, Văn học mạng, bloggers… Hơn nữa như thế nào là hội nhập? Ngoài vào trong, trong ra ngoài, trong ngoài nhập vào somewhere? Biển cả là nơi hội nhập của các giòng sông. Trong, ngoài anh, tôi đã, đang cùng nằm chung trong chiếc nôi văn học của thế giới, con người. Ngọn cỏ, gió đùa đấy thôi.

Lũy Đặng

Kính chào nhà văn Nguyễn thị Hoàng Bắc,

Trước hết, xin cảm ơn nữ sĩ đã bỏ thì giờ quý báu viết cho tôi mấy hàng chia sẻ bên trên về ý kiến “nhiệm vụ nhà văn (…) là hướng dẫn người đọc”. Nữ sĩ đặt cho tôi vào cái thế khó xử quá mạng. Nếu hồi đáp nữ sĩ thì sợ làm mất thời giờ bạn đọc; còn làm thinh thì lại sợ nữ sĩ cho là cái ông già Hai Trầu này coi vậy mà hổng “điệu nghệ” chút nào. Thôi thì xin phép BBT cho tôi có mấy lời ngắn gọn sau đây cho phải lẽ vậy:

1/ Nữ sĩ viết: ”Tất nhiên là anh viết cho Nguyễn Đức Tùng chớ không phải cho “tuôi”. Nhưng tôi/tui/tuôi thấy mình suy nghĩ giống… hơi y chang như NĐT nên mạo muội/lanh chanh/hớt lẻo “trao đổi” với anh. ”
Thưa nữ sĩ, hai nhà văn có cùng “suy nghĩ giống… hơi y chang” như nhau thì hổng có gì lạ, và cũng hổng có gì đáng trách nhưng nếu khác nhau thì hay hơn nhiều; vì sẽ giúp cho người đọc có nhiều ý tưởng mới hơn và sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm lạ hơn và có thể hay hơn.

2/ Nữ sĩ viết: ”Nhà văn/nhà thơ/nhạc sĩ/hoạ sĩ [nói chung người sáng tác] nào muốn nâng trình độ độc giả/người thưởng ngoạn lên từ hạng bắt đầu lên trung bình lên cao hơn là những người sáng tác có nghiên cứu, có tìm tòi, không chìu theo thị hiếu quen lối mòn của người đọc, DÁM CÓ THỬ NGHIỆM MỚI MÀ KHÔNG SỢ MẬT CÔNG CHÚNG. Nhà văn best-seller cứ chuyên viết một thể loại “ăn khách” rồi đứng đó dậm chân tại chỗ thì sẽ không có tác phẩm lớn”. Tiếp theo, nữ sĩ viết: ”Nhà phê bình, nhà nghiên cứu là những chuyên gia. Họ nghiên cứu, thu thập tài liệu, tư duy, khám phá… và chia sẻ kiến thức với bạn đọc, và tất nhiên cũng LẮNG NGHE sự phê phán, TRAO ĐỔI kiến thức đến từ phía bạn đọc.”
Về hai ý kiến này của nữ sĩ, vì tôi không phải là nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu nên tôi không biết và không có ý kiến.

3/ Nữ sĩ viết tiếp: ”Xã hội ngày nay là một xã hội mở, kiến thức thì mênh mông, cứ nhào vào internet là cái gì cũng có, chuyện nào cũng biết, nhưng vai trò chuyên gia vẫn vô cùng cần thiết. Giang hồ càng rộng mở, nhiều giọng nói cùng cất lên thì người nghe không có nội lực càng dễ bị “tẩu hoả nhập ma”, biết ai là phải ai là trái, nghe ai và bỏ ai?”
Về phần này, xin cảm ơn nữ sĩ đã quá lo cho người đọc chúng tôi bị “tẩu hỏa nhập ma” vì “không đủ nội lực”, và tôi thì nghĩ ngược lại “hồn ai thì nấy giữ”, chứ đi đâu cũng kè kè bên mình có một ông hay bà “chuyên gia” nào đó thì còn gì vui khi đọc sách. Tôi nói thiệt, coi một trận túc cầu mà biết trước kết quả ai thắng ai thua rồi thì cái thích thú, cái hào hứng của trận thư hùng trên sân cỏ nó bị mất hết 70% so với một trận cầu trực tiếp truyền hình.

4/ Nữ sĩ lại nhận xét: ”Có lẽ anh Hai hơi “rớt vào” tâm lý “nhị nguyên” và “nọa tính” “đối trọng”: hễ cứ làm độc giả thì suốt đời là độc giả, người viết thì cứ muôn đời là người viết. Đấy, thì như anh Tùng viết, anh Hai đọc, anh Hai viết, anh Tùng đọc, có thể anh Tùng sẽ viết lại, anh Hai viết, tôi đọc, rồi tôi…viết lại. Vậy quan hệ của chúng ta, theo anh Hai thì ai là thầy và ai là trò?”
Cái này cũng vui, “được” hay “bị” nữ sĩ gắn cho tôi mấy chữ trong ngoặc kép, thiệt tình tôi hổng hiểu gì hết, vì tôi chỉ nêu ý kiến nhỏ về “nhiệm vụ nhà văn” với tác giả Nguyễn Đức Tùng vậy thôi, chứ tôi đâu có biết “nhị nguyên”, “nọa tính” và “đối trọng” gì đâu, thưa nữ sĩ!
Nhưng có điều này cũng xin thưa lại với nữ sĩ là cái viết, cái đọc của người đọc nó hoàn toàn khác với cái viết, cái đọc của nhà văn và ngược lai, không thể lẫn lộn được. Dù nữ sĩ viết trời viết đất gì đi nữa, người đọc vẫn nghĩ nữ sĩ là nhà văn, còn người đọc như tôi, nếu có viết trăm thiên trang giấy cũng chỉ là của người đọc. Tại nữ sĩ ở trong giới viết văn rồi nữ sĩ nghĩ ông Nguyễn Đức Tùng viết rồi tôi đọc, rồi nữ sĩ viết Nguyễn Đức Tùng đọc hay tôi đọc đều xem xem như nhau. Hổng phải vậy đâu, thưa nữ sĩ !
Trong ba người giữa tôi, nữ sĩ và Nguyễn Đức Tùng là ba hạng người khác nhau hoàn toàn, không thể so sánh được. Cái đọc của Nguyễn Đức Tùng là cái đọc để tìm tòi đặng dùng vô việc đặt câu hỏi mà hỏi người ta, để viết tiểu luận, viết sách. Cái chủ đích đọc của Nguyễn Đức Tùng là đọc như vậy. Còn nữ sĩ đọc là đọc theo cái tâm trạng một nhà văn. Về điểm này tôi hổng rành nhưng chắc chắn là đọc với dụng ý để viết sách. Cả hai vị chắc hổng quên câu nói trong sách Thuyết Uyển: ”Học giả nên có ba cái nhiều là: đọc sách nhiều, nghị luận nhiều, trước thuật nhiều”, và Ngô Lai cũng nói: ”Trong bụng không có được ba vạn quyển sách; trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên hạ, thì chưa chắc làm được văn.” (Sách “Vân Đoài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn; Trần Văn Giáp biên soạn và khảo dịch; Trần Văn Khang làm sách dẫn; Cao Xuân Hạo hiệu đính và giới thiệu; nxb Văn Hóa-Thông Tin, Hà Nội, 2006). Còn tôi là người đọc, thì tôi đọc của Nguyễn Đức Tùng hay của nữ sĩ và các sách vở các nhà khác cũng không đi ra ngoài mục đích là “giết thì giờ”, đọc để giải trí, đọc cho biết, đọc để học hỏi thêm.
Cái viết của Nguyễn Đức Tùng, của nữ sĩ và của tôi, nếu có, cũng hoàn toàn khác nhau dữ lắm. Là người đọc, nếu tôi có viết là viết cái mình đã sống, đã thấy và đã biết rành. Ví dụ như tôi viết về một ngày nhà quê, về lúa thần nông, lúa mùa, về giăng lưới giăng câu, về chim, về chuột, dù là chuyện bình dân ấy, nhưng tôi có lội bùn lội ruộng rồi và tôi có lăn lóc qua rồi. Còn nữ sĩ là nhà văn, nên nữ sĩ viết để làm văn. Do vậy, cái nhà văn viết có khi hư hư thưc thực lẫn lộn; mà đa phần là cái tưởng tượng nhiều, hư cấu nhiều. Và Nguyễn Đức Tùng, viết là viết để lập luận, để làm cái khuôn, làm giáo trình, làm đề tài tranh luận như bài mà nữ sĩ và tôi đang đọc.
Dĩ nhiên ba người mà ba cái ý thích và suy nghĩ khác nhau, tuổi đời khác nhau và với trình độ học vấn khác nhau một trời một vực, mà hiểu nhau đưọc, tôi nghĩ khó dữ lắm chứ chẳng chơi. Nhứt là đối với cái dở của tôi về nhiều phương diện, tôi thấy trả lời cho nữ sĩ lá thơ này cũng là một cú liều mạng bất kể chết rồi vậy.

5/ Tới ý kiến này của nữ sĩ: ”Không cứ biết chữ là thành… người đọc, không cứ biết viết là thành…người viết, nên Thiếu Sơn mới khách quan/vô tư chia 4 loại người đọc, Nguyễn Đức Tùng ưu tư/thương người hơn nên chia thành 3 trình độ đọc.”
Về điểm này, tôi thấy nữ sĩ hơi hẹp bụng với bà con người biết chữ, vì sống quanh làng tôi, vùng tôi ở và nhiều vùng tôi đi qua những ngày còn làm ruộng lúa mùa, đâu đâu ai biết chữ cũng biết đọc, ít nhứt cũng biết đọc báo, đọc kinh sách ráo trọi. Tôi nhớ hồi đó, 1950, nhà cậu tôi ngày nào cũng đọc báo Thần Chung; rồi nhà ông Năm Ngữ ở làng Tân Bình (Lấp Vò, thuộc Long Xuyên ngày xưa) có cả bộ Nam Phong, Tiểu Thuyết Thứ Bảy đầy đủ nữa chứ chẳng chơi. Tôi nói thiệt chứ hổng có bốc đồng khoe khoang với nữ sĩ đâu. Ngoài ra, các cụ còn làm văn thơ nữa chứ. Các bậc túc Nho làng tôi ai cũng biết làm thơ Đường, thơ Lục Bát, nhưng cổ nhân làm văn thơ hổng phải để in sách và thành nhà văn mà để ghi khắc lên bia đá, chùa miếu, đình làng và để lại muôn đời. Về sau này, vì miếng cơm manh áo, dân vùng tôi ít làm văn, đặt thơ nhưng họ vẫn còn đọc báo, ít đọc sách và nếu có, họ đọc kinh sách thánh hiền và họ đọc để tu thân hơn là giải trí và giết thì giờ .
Về cái “vô tư” và “ưu tư”, tôi không nghĩ hai tác giả Thiếu Sơn và Nguyễn Đức Tùng ai “vô tư/ khách quan” và “ưu tư/ thương người” hơn ai, mà đây chỉ là sự khác nhau về cái nhìn và thời khắc đưa ra nhận xét, phân loại. Ông Thiếu Sơn đưa ra nhận định này năm 1935, cách nay 73 năm, bằng tuổi một đời người, dĩ nhiên Nguyễn Đức Tùng phải phân loại theo thời đại của thế kỷ XXI, nhưng còn hợp lý cùng không lại là một lẽ khác nữa nhe, nữ sĩ.

6/ Sau cùng, nữ sĩ: “Kết: Nguyễn Đức Tùng tiên đoán như thần, nghĩa là “Hội Luận sẽ rất vui vẻ”, “tuôi” nói thêm, ”vì chúng ta được nói và được nghe nhau.”
Thưa nữ sĩ, tôi lại nghĩ khác: Vui thì có vui nhưng tôi cũng ớn dữ lắm…

Thưa nữ sĩ,
Qua mấy lời trần tình trên tôi thấy đã đáp lễ khá đầy đủ vài ý kiến mà nữ sĩ nêu ra, và vì đây là diễn đàn của “Hội Luận Văn Học” chứ hổng phải chỗ tranh hơn thiệt gì, nên xin nữ sĩ cho tôi hai chữ bình an và ngừng ở đây luôn thể.
Trân trọng,

Hai Trầu