Nguyễn Đức Tùng: Tranh luận văn học (I)

Nguyễn Đức Tùng

Tranh luận văn học
 
Gần đây, nhiều người nhấn mạnh trở lại vấn đề hòa hợp dân tộc. Tôi cho rằng đây là một khuynh hướng đúng và tự nhiên. Cũng có những người phản đối việc hòa giải hòa hợp. Đó cũng là chuyện… tự nhiên. Chúng ta cần lắng nghe những người này, thành thật tôn trọng ý kiến của họ, miễn là chúng được trình bày trong tinh thần hiểu biết, dân chủ, và đặc biệt là ở trình độ tương xứng về nhận thức. Sự khác biệt ý kiến về một vấn đề nào đó, thậm chí khác biệt gay gắt, là chuyện bình thường, lúc nào cũng có thể xảy ra.
Trong số những nhà văn ủng hộ hòa hợp, có người xem hội nhập văn học là một trong những bước khởi đầu của quá trình đó, từ góc độ của người cầm viết. Tôi cho rằng nếu thế thì các hình thức gặp gỡ ngoài đời và gặp gỡ trên báo chí, với mục đích thảo luận, tranh luận về các vấn đề văn học nghệ thuật, xin gọi tắt là tranh luận văn học, là “khởi đầu của sự khởi đầu.”
 
Mặt khác, tranh luận văn học lại có mục đích riêng của nó, quan trọng hơn, thuần túy văn học, vừa giới hạn trong các vấn đề cụ thể (specific) vừa vượt ra ngoài các ý nghĩa chính trị của vấn đề hòa giải hay hội nhập. Tranh luận văn học của các nhà văn trong nước và ngoài nước, “Nam” và “Bắc”, không cần chờ đến sự đồng ý của chính quyền và bộ máy chính thống, và không lấy sự đồng ý này làm tiền đề hay điều kiện bắt buộc (prerequisite). Điều này, không có nghĩa là sự ủng hộ của chính quyền, nếu có, là không quan trọng.
Tuy nhiên, đã khá lâu, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, nền văn học tiếng Việt hầu như không biết đến tranh luận. Không được quyền tự do tranh luận hay không thích tự do tranh luận. Không được quyền tranh luận vì đang bị áp bức; không thích tranh luận vì đang ở thế áp bức người khác về tư tưởng. Do không có tranh luận một cách dân chủ và văn minh, nên đối với bất cứ một nhóm người Việt nào, nhìn từ bên ngoài, có vẻ như mọi người trong nhóm đó đều đồng ý với nhau về mọi chuyện.
Ai cũng biết sự thật thì trái lại. Nhưng vấn đề mà chúng ta quan tâm không nằm ở chỗ người Việt, tiêu biểu là các nhà văn, có đồng ý hay không đồng ý với nhau về một số việc, mà vấn đề là họ đã đi đến sự đồng ý hay không đồng ý đó như thế nào? Câu hỏi đối mặt với chúng ta hôm nay thật ra đã xuất hiện từ lâu. Đó là câu hỏi về việc xây dựng một không khí trao đổi, bàn bạc, thảo luận lành mạnh, hữu ích về các vấn đề văn học, nghệ thuật Việt Nam. Tôi định viết là các “vấn đề thuần túy văn học, nghệ thuật” nhưng chợt nhận ra rằng đối với người Việt Nam không có gì có thể là thuần túy cả. Thế nào các tranh luận này cũng sẽ, trực tiếp hay gián tiếp, ngay lập tức hay một cách lâu dài, dẫn đến các vấn đề chính trị sâu xa, nhưng trước mắt, chúng ta cần hạn chế chúng trong những khuôn khổ nhất định để có thể làm việc được.
Một môi trường lành mạnh, sôi động, và tôi tin là sẽ rất vui vẻ, như thế, hiện nay chưa có. Ở trong nước và ở hải ngoại. Nhưng sẽ có. Tùy ở chúng ta.
Hãy quan sát thời kỳ Pháp thuộc khoảng 1930-1945. Thời kỳ đó, trong những điều kiện khó khăn của một nước không có độc lập, các nhà văn nhà báo Việt Nam đã tiến hành các cuộc thảo luận sôi nổi trên báo chí, thổi một luồng sinh khí mới cho văn học. Các giá trị văn hóa phương Tây cọ xát với các giá trị cổ truyền, tạo ra hướng đi mới cho văn học nghệ thuật. Tôi cho rằng bên cạnh tiểu thuyết và thơ mới, báo chí Việt Nam và các cuộc thảo luận trên báo chí là thành tựu thứ ba của một thời kỳ văn học rực rỡ.
Có một sự thực sẽ làm khó chịu nhiều người, đó là: chưa có độc lập thì có nền văn học lớn, mà có độc lập rồi thì nền văn học lại trở thành bé xíu.
Từ năm 1945, lịch sử văn học cũng là lịch sử của chiến tranh. Đó là lịch sử của sự phân cách, cô lập, nghi kỵ, hận thù. Các quá trình chia cắt như thế tìm được cho mình mảnh đất màu mỡ trên sự chống lại thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ. Người Việt hôm nay không những cách xa nhau về địa lý giữa trong nước và hải ngoại, giữa nơi định cư ở các nước trên thế giới, giữa Nam và Bắc, mà còn khác nhau sâu xa trong mỗi tầng lớp riêng biệt, dựa trên những bất đồng về chính trị văn hóa, do quan điểm hoặc do quá khứ hoặc cả hai. Không một thời đại nào mà một số không nhỏ các nhà văn cũng như trí thức Việt Nam hoặc là trở nên những kẻ nhút nhát, rụt rè, cứng người trong sợ hãi, trong khi một số khác trở nên hung hăng, lém lỉnh, láu cá, thậm chí cơ hội, như hiện nay.
Rất lâu trước khi xảy ra tình trạng này, trong đó sự phân lập là kẻ thống trị, nhà văn Việt Nam không phải là không có truyền thống về quan hệ thân mật, giúp đỡ nhân ái với nhau, khuyến khích tự do trao đổi. Một truyền thống như thế đã được thiết lập từ lâu, với nhiều ví dụ ở các nhà văn đã qua đời, có thể tìm thấy trong các tài liệu và tiểu sử, như Nhất Linh, Phan Khôi, Nguyễn Hiến Lê, Văn Cao, Thanh Tâm Tuyền, Phùng Quán… đến những người lớn tuổi còn sống mà tôi đã có may mắn được gặp như Hoàng Cầm, Dương Tường, Lê Đạt, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Ngọc Hiến… trước khi các hệ thống chống lại tự do bắt đầu áp đặt cho nhà văn các biên giới mà lương tâm của họ luôn luôn tìm cách vượt qua.
Tiếc thay, chúng ta ai cũng biết rằng lương tâm không có ích cho ai, là một món vô bổ, nếu như nó không làm phát sinh các giá trị có thể quan sát được. Đó là các giá trị của hành động. Hành động của nhà văn là viết.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà văn là tác phẩm. Nhưng những nền văn học phát triển trên thế giới đều chứng kiến, trong những giai đoạn phát triển cao của nó, sự phát sinh các cuộc tranh luận văn học nghệ thuật lớn, các diễn đàn, các xa-lông văn nghệ và một không khí trao đổi tự do. Một không khí như thế, một môi trường có tính kích thích sáng tạo như thế, không những phản ảnh tiến độ của một nền văn học mà còn là động cơ thúc đẩy sự phát triển đó, tạo ra các cảm hứng sáng tạo, giúp phân tích và thấu hiểu các vận động văn học thế giới và các tác phẩm cụ thể, tạo ra sự hưng phấn và ganh đua lành mạnh giữa những người viết.
Văn học chúng ta đang rơi vào hai thái cực khác nhau. Một mặt, nó trở thành thứ văn chương phục vụ chính trị của chế độ hiện nay, trong đó nhà văn, mặc dù không phải là họ không bao giờ tạo ra được các giá trị thẩm mĩ, chỉ chuyên chú làm cho tác phẩm của mình được khen ngợi bởi những người đọc dễ dãi, bởi cấp trên, và mang lại những lợi ích trần gian cụ thể. Một mặt nó trở thành thứ văn chương nổi loạn, phá phách, trong đó nhà văn trong khi cũng tạo ra được một số các giá trị mới, hầu hết, khác với mong mỏi của họ, đều tìm thấy mình đứng bên lề đường của dòng chảy xã hội, nghĩa là không tác động được nhiều lên đám đông, vốn có khả năng phân biệt sự phá phách bốc đồng của tuổi trẻ và các hành động phản kháng lâu dài chín chắn hơn. Cũng có trường hợp thứ ba là không ít nhà văn hoàn toàn bị tê liệt vì mắc phải chứng bệnh hoang tưởng sợ hãi (paranoid disorder). Tôi sẽ xin trở lại vấn đề riêng biệt này trong một bài viết khác.
Nếu một nền văn học chỉ mang lại sự giải trí thuần túy, dễ dãi, thì sự nghiên cứu hệ thống và các tranh luận về nó không có lý do tồn tại. Nó phải mang lại, bên cạnh sự giải trí dễ dãi, sự hiểu biết đối với các quan tâm của con người, bao gồm các quan tâm chính trị, văn hóa, và cơm ăn áo mặc. Kinh nghiệm của nhiều thế hệ chỉ ra rằng một nền văn học lớn, xứng đáng với thời đại của nó, bao giờ cũng tạo ra những phương tiện lý giải đối với lịch sử và các diễn tiến tương lai, cần thiết cho sự phát triển của xã hội.
Ao ước mạnh mẽ nhất của một nhà văn là được viết và viết ra được những tác phẩm mà anh ta tin rằng chúng tương xứng với tài năng, thể hiện trung thành các ý tưởng của mình. Ao ước này vượt lên tất cả những khó khăn chờ đợi anh ta phía trước. Không phải người nào cũng vượt qua được, hoặc có nhiều người vượt qua được nhưng khi đã muộn màng. Điều gì có thể làm cho các nhà văn tiết kiệm được thời gian của họ, giúp họ vượt qua những khó khăn trong đời sống, như sự thiếu kinh nghiệm, thiếu tự tin, sự từ chối của nhà xuất bản, tác phẩm không được công chúng biết đến, bị đàn áp hoặc cấm đoán bởi chính quyền, sự cô lập về thông tin, một môi trường trì trệ về sáng tạo, một không khí uể oải tỉnh lẻ, một tâm lý hận thù che lấp sự tỉnh táo, hay thói huênh hoang phách lối ở những kẻ bợ đỡ phù thịnh, vốn thời nào cũng có? Mà kẻ chịu thiệt cuối cùng là những người có lương tri, những nhà văn “thua cuộc” thực sự và những nhà văn đã mất mát và hy sinh thực sự nhưng chưa bao giờ tự cho mình là kẻ “chiến thắng oanh liệt”, và những người trong tay không có súng cũng không có viết.
Các tổ chức nhà văn Việt Nam hiện nay như Hội Nhà Văn ở Hà Nội và ở các tỉnh, nếu là trong nước, và các trung tâm Văn Bút (PEN), nếu ở hải ngoại, không thể nào trở thành những môi trường kích thích sáng tạo. Trong khi chờ đợi có những tổ chức mới hơn, thích hợp hơn, các tranh luận văn học cũng có thể dẫn đến những gợi ý và những tiền đề nhất định cho những tổ chức như thế.
Giá trị văn học của một tác phẩm trước hết dựa trên sự khẳng định của nó đối với tự do của nhà văn. Bất cứ một xã hội và định chế xã hội nào cũng khuyến khích các thành viên của nó hành xử trong giới hạn mà xã hội đó đề ra, và trừng phạt, hay ít ra là không khuyến khích, các thành viên của nó vượt ra khỏi các giới hạn này. Nhưng hành động sáng tạo, nếu là sáng tạo thực sự chứ không phải là các thứ làm dáng quỷ quái, hay các giá trị nhất thời bị thổi phồng lên bởi các trò phe phái hay các đòn phép chính trị, của một nhà văn, tự thân chúng chứa những mầm mống của sự bất đồng và phản kháng đối với các tình huống đương thời của nó. Khi nhà văn chọn một từ ngữ hay một câu viết trình bày được một cách thỏa mãn các ý tưởng hay xúc cảm mới mẻ của anh ta, và chúng xuất hiện trước người đọc như một sự chinh phục, bao giờ từ ngữ và câu văn ấy cũng có ý nghĩa cách tân sâu xa. Nếu một người đọc nhận ra và thưởng thức được giá trị của điều này, anh ta đã cùng với người viết vượt qua các giới hạn của ngày hôm trước, và đối diện với những câu hỏi như: Tại sao đã xảy ra điều này? Điều kia là tốt hay xấu? Trong hoàn cảnh như vậy, ta cần phải làm gì? Lịch sử có thể được thay đổi như thế nào cho nhân đạo hơn? Vân vân…
Nói cách khác, ảnh hưởng của một nhà văn đối với người đọc, vượt ra ngoài những ý định có sẵn của một trong hai phía, bao giờ cũng là các phản ứng dây chuyền. Nhà văn tất nhiên ao ước được biết phản ứng dây chuyền này sẽ dẫn đến đâu. Anh ta không cách gì biết được nếu không có nhà phê bình và dư luận người đọc, được thể hiện một cách trung thực và mau chóng bằng các phương tiện dân chủ và công khai.
Lịch sử quả thật đã mang lại những tiền đề không công bằng cho các nhà văn Việt Nam. Rất nhiều người trong chúng ta đang sống trong những điều kiện hết sức khó khăn về vật chất hoặc về tinh thần, hoặc là cả hai. Hầu hết các nhà văn ở hải ngoại và trong nước đều phải làm những công việc để tự nuôi sống mình và gia đình, và chỉ có thể dành những giờ khắc quý báu riêng tư giữa các giờ làm việc căng thẳng cho văn chương và ngôn ngữ Việt Nam. Hầu hết các nhà văn trong nước và một số không ít nhà văn ở hải ngoại chịu sức ép từ nhiều phía, từ những ràng buộc về tinh thần đến những đe dọa khốc liệt hơn. Đồng thời, chúng ta cũng tự kiểm duyệt chúng ta. Chúng ta trở nên bất lực và ngày càng bất lực trước các vấn nạn của văn hóa và đời sống xã hội. Chúng ta không tự mình tạo ra được những quyết định căn bản. Như là nguyên nhân và như là hậu quả của điều này, những kẻ đại diện cho chúng ta trong văn học tin rằng họ có thể quyết định thay cho chúng ta.
Thật ra không một nhà văn nào được quyền trao những quyết định của mình cho người khác. Chính họ là người duy nhất chịu trách nhiệm với độc giả, trước trang viết của mình.
Những lựa chọn của nhà văn quả thật là khó khăn. Nhưng các nhà văn trong quá khứ và ngày hôm nay, của Việt Nam và trên thế giới, chưa bao giờ có những lựa chọn dễ dàng. Những trao đổi tự do và thẳng thắn trên các diễn đàn không hẳn sẽ làm cho lựa chọn của nhà văn trở nên dễ dàng hơn, nhưng chắc chắn sẽ làm cho chúng trở nên sáng rõ hơn trước mắt anh ta.
Mục đích quan trọng của tranh luận và hội luận văn học là tạo ra các ý nghĩa mới.
Chúng ta hy vọng trả lời những câu hỏi sau đây, và bằng cách trả lời chúng, thông qua các cuộc bàn cãi, tìm ra ý nghĩa của những vấn đề khác nhau: quan hệ giữa văn học trong nước và hải ngoại ra sao, văn học miền Bắc và văn học miền Nam trong cùng thời kỳ có thể so sánh với nhau ra sao, vai trò của thơ trẻ hiện nay, người đọc và người viết, chủ nghĩa hậu hiện đại, vai trò của văn học trong đời sống xã hội, văn học và lịch sử các cuộc chiến tranh 1945-1975, sự phản ảnh về tội ác của các bên tham gia chiến tranh, sự phơi bày các bí mật bị chính quyền cố tình che dấu, vai trò của dân chủ và tự do đối với sự phát triển v.v… Các câu hỏi như thế thì nhiều, các vấn đề nảy sinh trong đời sống văn học thì gần như bất tận. Một nền tranh luận văn học lành mạnh không đặt cho mình nhiệm vụ đi tìm câu trả lời chi tiết về tất cả mọi chuyện, nhưng nhất thiết nó phải chỉ ra được từ đâu chúng ta đã rơi vào tình cảnh đáng thương hiện nay, một tình cảnh mà trong đó nhiều nhà văn không đủ khả năng suy nghĩ một cách rõ ràng về bất cứ chuyện gì, trừ những chuyện không liên quan gì đến văn học.
 
Cả những người chống lại sự tuyệt đối tự do về sáng tác và tranh luận văn học và những người ủng hộ nó đều có những lý lẽ riêng của mình. Tuy nhiên những người chống lại thường không phải là các nhà văn.
 
(Còn tiếp một kỳ)
15 Feb 2008
Nguyễn Đức Tùng
 


Bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

Không có phản hồi/No comments

Comments feed for this article